Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng trong đô thị ở Thành phố Hà Nội" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Hường thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thanh Chương và PGS.TS Vũ Trọng Tích, bảo vệ tại Trường Đại học Giao thông Vận tải năm 2023, thuộc ngành Tổ chức và quản lý vận tải.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tại Thành phố Hà Nội, sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện giao thông cá nhân dẫn đến tình trạng quá tải hạ tầng, ùn tắc và ô nhiễm môi trường. Quyết định số 519/2016/QĐ-TTg ngày 31/03/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch giao thông vận tải Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt mục tiêu: đến năm 2030, vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) đáp ứng 50–55% nhu cầu đi lại (đường sắt đô thị 25–30%, xe buýt 25%); sau năm 2030 đáp ứng 65–70% (đường sắt đô thị 35–40%, xe buýt 30%).

Tuy nhiên, thực tế phát triển chưa đạt kỳ vọng:

  • Khối lượng vận chuyển hành khách bằng xe buýt giai đoạn 2014–2016 giảm bình quân 7,7%/năm; giai đoạn 2017–2019 tăng chậm 3,85%/năm; giai đoạn 2020–2021 giảm trung bình 35%/năm do dịch Covid-19.
  • Giai đoạn 2010–2021, tốc độ tăng trưởng ô tô con đạt 16,77%/năm, xe máy đạt 8,48%/năm.
  • Đến năm 2021, xe máy vẫn đảm nhận 4.347,68 triệu lượt hành khách (chiếm 77,98%); ô tô con đảm nhận 278,2 triệu lượt (chiếm 4,99%); trong khi xe buýt chỉ đáp ứng 484,5 triệu lượt (chiếm 8,69%).

Các biện pháp quản lý tiếp cận theo hướng "lấy cung dẫn đầu" (tăng số lượng phương tiện, mở rộng mạng lưới tuyến) bộc lộ nhiều hạn chế khi không đánh giá đầy đủ nhu cầu thực tế của người sử dụng phương tiện. Do đó, nghiên cứu tiếp cận dưới góc nhìn hành vi người tiêu dùng vận tải là cần thiết nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quản lý nhu cầu đi lại theo hướng bền vững.

Chỉ tiêu vận tải tại Hà Nội Thực trạng năm 2021 Mục tiêu đến năm 2030 (QĐ 519/2016/QĐ-TTg) Mục tiêu sau năm 2030 (QĐ 519/2016/QĐ-TTg)
Thị phần xe máy 77,98% (4.347,68 triệu lượt) Giảm mạnh theo lộ trình quản lý Giảm thiểu
Thị phần ô tô con 4,99% (278,20 triệu lượt) Kiểm soát tăng trưởng Kiểm soát chặt chẽ
Thị phần xe buýt 8,69% (484,50 triệu lượt) 25,00% 30,00%
Thị phần Đường sắt đô thị (ĐSĐT) Mới vận hành tuyến thí điểm 25,00% – 30,00% 35,00% – 40,00%
Tổng thị phần VTHKCC ~8,69% 50,00% – 55,00% 65,00% – 70,00%

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu là làm sáng tỏ hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải hành khách trong đô thị tại Hà Nội, xây dựng mô hình và xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng. Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Câu hỏi 1: Hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng trong đô thị ở TP Hà Nội có đặc thù gì và chịu sự tác động của những yếu tố nào?
  2. Câu hỏi 2: Mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng trong đô thị ở TP Hà Nội như thế nào?
  3. Câu hỏi 3: Từ kết quả nghiên cứu, những khuyến nghị nào cần thiết cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách và các đơn vị khai thác vận hành cung ứng dịch vụ VTHKCC trong đô thị ở TP Hà Nội theo hướng bền vững?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện VTHKCC và các phương tiện cạnh tranh (xe máy, ô tô cá nhân, xe đạp) đối với các chuyến đi thường xuyên trong đô thị.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tổng quát các đô thị tại Việt Nam để xây dựng khung lý luận; khảo sát thực nghiệm và thu thập dữ liệu cụ thể tại địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu thực hiện từ tháng 06/2017 đến tháng 01/2023. Dữ liệu thứ cấp vĩ mô về hiện trạng GTVT thu thập giai đoạn 2010–2021; dữ liệu sơ cấp từ khảo sát điều tra thực tế thực hiện từ ngày 06/05/2022 đến ngày 20/05/2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Các công trình quốc tế được tác giả phân loại theo từng nhóm phương tiện và nhóm chính sách tác động:

  • Lựa chọn xe buýt và phương tiện công cộng: Satiennam và cộng sự (2011), Thamizh Arasan và Vedagiri (2009) xác định phụ nữ có xác suất chuyển sang phương tiện công cộng cao hơn; Alvinsyah, Soehodho và Nainggolan (2005) nhận thấy nam giới có xu hướng thích tự lái xe; Abuhamoud, Rahmat và Ismail (2011) chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa tuổi tác và việc sử dụng phương tiện công cộng khi chất lượng được cải thiện; Diaz (2011) nghiên cứu về tác động của thu nhập đối với độ nhạy cảm giá vé; Wibowo và Chalermpong (2010) nhấn mạnh tính sẵn có của ô tô và khả năng tiếp cận phương tiện công cộng; Joewono và Kubota (2007) chỉ rõ vai trò của nhận thức thuộc tính dịch vụ; Nor Ghani, Ahmad và Tan (2007) chứng minh sở thích về tiện nghi làm tăng khả năng chọn xe lửa hơn xe buýt; Popuri và cộng sự (2011) kết hợp biến thái độ (tin cậy, an toàn, thoải mái) cùng biến nhân khẩu học và thời gian chờ đợi.
  • Sở hữu và sử dụng xe máy, ô tô cá nhân: Kepaptsoglou và cộng sự (2011), Senbil và cộng sự (2007), Hsu và cộng sự (2007), Leong và Sadullah (2007), Ho và Yamamoto (2009), Lai và Lu (2007), Wen và cộng sự (2012) phân tích ảnh hưởng của thu nhập, giới tính, quy mô hộ gia đình; Chiou và cộng sự (2009) mô hình hóa các kịch bản giá xăng tại Đài Loan; Law và cộng sự (2015), Yamamoto (2009) khẳng định quyền sở hữu ô tô và xe máy không độc lập; Pojani, Elona và cộng sự (2018) nghiên cứu thái độ xem ô tô là biểu tượng địa vị.
  • Phương tiện phi cơ giới (đi bộ và xe đạp): Fraser và Lock (2011), Muñoz và cộng sự (2016), Mitra (2013), Handy và cộng sự (2014), Heinen và cộng sự (2010), Hamre và Buehler (2014), Böcker và cộng sự (2013) phân tích mối liên hệ giữa thời tiết, khoảng cách di chuyển, cơ cấu gia đình và sự hiện diện của trẻ em đối với việc đi bộ, đi xe đạp.
  • Tác động của chính sách điều tiết (Kéo/Đẩy): Thøgersen và Møller (2008), Ching-Fu Chen và Wen-Tai Lai (2011), Lai và Lu (2007) chỉ rõ tại các đô thị phụ thuộc xe máy ở châu Á, các chính sách hạn chế phương tiện cá nhân (đẩy) kết hợp cải thiện phương tiện công cộng (kéo) thường đối mặt với rào cản từ thói quen sử dụng xe máy lâu đời.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Vũ Anh Tuấn (2015) khảo sát 800 mẫu tại Hà Nội năm 2012, chỉ ra vai trò chi phối của thu nhập, tính linh hoạt và chức năng kinh tế của xe máy khiến người dân khó từ bỏ, đồng thời phân tích phản ứng của người dân trước các dự thảo chính sách hạn chế phương tiện cá nhân và kỳ vọng về BRT/MRT.
  • Nguyễn Trọng Hoài và Hồ Quốc Tuấn (2015) khảo sát tại TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ, chứng minh thái độ đối với môi trường và mức độ sẵn lòng hành động làm tăng khả năng lựa chọn đi bộ, đi xe đạp.
  • Phan Nguyễn Hoài Nam (2021) phân tích 12 yếu tố tác động đến dự báo phân bổ nhu cầu đi lại tại TP Hồ Chí Minh qua thang đo Likert 5 mức độ.
  • Chu Công Minh (2019) nghiên cứu hiện trạng sở hữu và sử dụng xe máy tại TP Hồ Chí Minh theo các kịch bản chính sách.
  • Nguyễn Hồng Thái (2017) đề xuất giải pháp tác động hành vi theo từng giai đoạn phát triển đô thị Hà Nội.
  • Nguyễn Thanh Hiền (2014) và Nguyễn Quang Thu (2009) kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ xe buýt tại Nha Trang và TP Hồ Chí Minh.

Khoảng trống nghiên cứu được giải quyết

  1. Chưa có nhiều nghiên cứu định lượng kết hợp đồng thời bộ dữ liệu định tính (nhận thức, thái độ, chuẩn chủ quan mang đặc trưng văn hóa đô thị Việt Nam) và bộ dữ liệu định lượng về đặc tính chuyến đi thực tế.
  2. Thiếu mô hình nghiên cứu đặt trong bối cảnh xuất hiện loại hình phương tiện vận tải khối lượng lớn mới tại Hà Nội là Đường sắt đô thị (tuyến Cát Linh – Hà Đông).
  3. Các nghiên cứu trước phần lớn tiếp cận từ phía cung dịch vụ xe buýt đơn lẻ mà chưa đặt trong mô hình lựa chọn cạnh tranh đa phương thức (xe buýt, đường sắt đô thị, ô tô cá nhân, xe đạp, xe máy) cho các chuyến đi thường xuyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và mô hình phân tích

Luận án tích hợp hai trường phái lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết kinh tế học về tối đa hóa thỏa dụng (Utility Maximization Theory): Người sử dụng phương tiện (NSDPT) đóng vai trò là người tiêu dùng vận tải, đưa ra quyết định nhằm tối đa hóa hàm thỏa dụng $U = F(TG, CP)$, trong đó $TG$ là thời gian đi lại và $CP$ là chi phí chuyến đi. Độ dốc của đường bàng quan (đường đồng mức thỏa dụng) thể hiện tỷ lệ đánh đổi biên: $$\text{Độ dốc đường bàng quan} = \frac{MU_{CP}}{MU_{TG}}$$ Hàm thỏa dụng tổng quát của cá nhân $t$ đối với phương tiện $i$ được xác định theo công thức: $$U_{it} = V(X_{it}, S_t)$$ Trong đó $X_{it}$ là véc-tơ thuộc tính của phương tiện $i$, $S_t$ là véc-tơ đặc điểm cá nhân của người $t$. Cá nhân lựa chọn phương tiện $i$ khi $U_{it} > U_{jt}$ với mọi $j \neq i$.
  2. Lý thuyết tâm lý học hành vi: Vận dụng mô hình Kích thích – Can thiệp – Phản ứng (S-I-R) của Watson (1913) và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991). Hành vi được cấu thành từ 4 thành tố: Kiến thức, Niềm tin, Thái độ và Thực hành, chịu sự chi phối của các chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
  3. Quy tắc ra quyết định: Phân loại thành các quy tắc có quy tắc (quy tắc chi phối/ưu thế, quy tắc lựa chọn ưu tiên, quy tắc đền bù, quy tắc tối đa hóa thỏa dụng) và quy tắc bất quy tắc (ngẫu nhiên, cảm xúc). Luận án tập trung vào quy tắc tối đa hóa thỏa dụng có tính chất đền bù.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|                            CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG                                    |
|  - Yếu tố chủ quan: Đặc điểm nhân khẩu, văn hóa, động cơ, nhận thức, thái độ      |
|  - Đặc điểm chuyến đi: Cự ly, mục đích, tần suất, thời gian                       |
|  - Yếu tố khách quan: Thuộc tính kinh tế - kỹ thuật phương tiện, chính sách       |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
                                          |
                                          v
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|                             MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU                                    |
|            Mô hình Hồi quy Logit đa thức (Multinomial Logistic Regression)        |
|                  Phương tiện cơ sở so sánh (Reference Category): Xe máy           |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
                                          |
                                          v
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|                        HÀNH VI LỰA CHỌN PHƯƠNG TIỆN                               |
|        [ Xe buýt ]  --  [ Đường sắt đô thị ]  --  [ Ô tô cá nhân ]  --  [ Xe đạp ]|
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
                                          |
                                          v
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|                           ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BỀN VỮNG                              |
|           Quản lý nhu cầu đi lại, chính sách đẩy/kéo, hoàn thiện dịch vụ          |
+-----------------------------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp định tính: Rà soát tài liệu học thuật, nghiên cứu các đặc trưng văn hóa - xã hội tại Hà Nội, tham vấn chuyên gia và khảo sát thử nghiệm để thiết lập hệ thống biến quan sát, hoàn thiện bảng hỏi khảo sát và thang đo Likert.
  • Phương pháp định lượng:
    • Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha.
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với ma trận xoay nhân tố.
    • Sử dụng mô hình Hồi quy Logit đa thức (Multinomial Logistic Regression - MNL) để ước lượng xác suất lựa chọn các phương tiện (xe buýt, đường sắt đô thị, ô tô cá nhân, xe đạp) so với phương tiện cơ sở là xe máy.
    • Công cụ xử lý dữ liệu: Phần mềm SPSS phiên bản 22.0.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Tổng cục Thống kê, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội, Cục Đăng kiểm Việt Nam, Công an TP Hà Nội.
    • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp hành khách sinh sống, học tập và làm việc tại Hà Nội có thực hiện các chuyến đi thường xuyên trong đô thị.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về hành vi lựa chọn phương tiện giao thông đô thị, phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm đặc điểm kinh tế - xã hội, nhân khẩu học, thuộc tính chuyến đi và các chính sách quản lý (kéo/đẩy). Tác giả đánh giá kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia phụ thuộc xe máy tại châu Á (Đài Loan, Thái Lan, Malaysia, Indonesia) và phân tích các bài học trong việc điều tiết hành vi di chuyển. Trên cơ sở đó, chương xác định 4 khoảng trống nghiên cứu then chốt và xây dựng khung logic nghiên cứu tổng thể làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải hành khách trong đô thị và mô hình nghiên cứu

Chương 2 làm rõ các khái niệm về đô thị hóa, phân loại đô thị theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13, bản chất của nhu cầu đi lại (nhu cầu phát sinh, ít có khả năng thay thế về mặt nhu cầu gốc mà chỉ thay thế về phương tiện thực hiện). Tác giả phân loại chi tiết hệ thống phương tiện vận tải hành khách đô thị:

  • Sức chứa lớn: Tàu điện ngầm (Metro), tàu điện bánh sắt (Tramway), tàu điện một ray (Monorail), tàu điện bánh hơi (Trolleybus), Đường sắt đô thị (ĐSĐT), Xe buýt, Buýt nhanh (BRT).
  • Sức chứa nhỏ: Xe đạp, xe máy, ô tô cá nhân, taxi, xe lam, xích lô.

Chương xây dựng mô hình lựa chọn dựa trên lý thuyết tối đa hóa thỏa dụng kết hợp tâm lý học hành vi, phân chia các yếu tố ảnh hưởng thành nhóm chủ quan (đặc điểm nhân khẩu, văn hóa, động cơ, nhận thức, niềm tin, thái độ, đặc điểm chuyến đi) và nhóm khách quan (sự sẵn có của phương tiện thay thế, đặc tính kinh tế - kỹ thuật, chính sách nhà nước), đồng thời thiết lập 8 nhóm biến nghiên cứu và các giả thuyết tương ứng.

Loại hình phương tiện Quy mô đô thị phù hợp Sức chứa / Năng lực vận chuyển định mức Đặc điểm khai thác kỹ thuật
Tàu điện ngầm (Metro) Đô thị loại I, dân số > 1 triệu dân Luồng khách từ 40.000 HK/giờ/hướng Chạy trong chỉ giới đường riêng, ngầm dưới đất, thềm ga cao
Đường sắt đô thị (ĐSĐT) Đô thị lớn, khu trung tâm và ngoại ô Luồng khách ~ 20.000 HK/giờ/hướng Tách biệt đường sắt quốc gia, động cơ điện, tốc độ 45–60 km/h
Buýt nhanh (BRT) Đô thị loại I, loại đặc biệt Luồng khách ~ 25.000 HK/giờ/hướng Làn đường riêng, ưu tiên tín hiệu, tốc độ 25–30 km/h
Tàu điện bánh hơi (Trolleybus) Đô thị loại I và loại II Sức chứa 90–145 chỗ, luồng khách trung bình Chạy trên đường phố, dùng 2 dây dẫn điện trên cao, tốc độ 40–45 km/h
Xe buýt tiêu chuẩn Mọi quy mô đô thị Đa dạng từ 9 chỗ trở lên Linh hoạt, chi phí đầu tư thấp, kết nối gom khách cho vận tải khối lượng lớn
Phương tiện cá nhân (Xe máy, Ô tô) Phổ biến tại các đô thị 1–5 người/xe Tính linh hoạt cao, chiếm dụng không gian lớn, gây ùn tắc và ô nhiễm

Chương 3: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng trong đô thị ở Thành phố Hà Nội

Chương 3 phân tích sâu hiện trạng mạng lưới giao thông Hà Nội giai đoạn 2010–2021, cấu trúc đoàn phương tiện trên địa bàn 12 quận nội thành, mức độ phục vụ và độ bao phủ của mạng lưới tuyến xe buýt. Tiếp đó, tác giả trình bày tiến độ các giai đoạn khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp (tháng 5/2022).

Quy trình kiểm định chất lượng thang đo được thực hiện qua:

  • Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho các thang đo định lượng và thang đo nhận thức sức khỏe, môi trường, thái độ.
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA và ma trận xoay nhân tố nhằm cô đọng các biến quan sát thành các nhóm nhân tố có ý nghĩa thống kê, chuẩn bị dữ liệu đầu vào cho mô hình hồi quy.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu hành vi lựa chọn sử dụng phương tiện vận tải hành khách công cộng trong đô thị ở Thành phố Hà Nội

Chương 4 công bố kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và kết quả chạy mô hình Hồi quy Logit đa thức (Multinomial Logistic Regression) với xe máy làm nhóm cơ sở so sánh:

  • Mô hình lựa chọn xe buýt: Đánh giá ảnh hưởng của các biến thời gian đi lại, chi phí, cự ly chuyến đi, độ tin cậy và sự thoải mái tới xác suất chuyển đổi từ xe máy sang xe buýt.
  • Mô hình lựa chọn Đường sắt đô thị: Phân tích độ nhạy cảm của hành khách đối với tuyến ĐSĐT Cát Linh – Hà Đông, đặc biệt là nhóm hành khách có cự ly di chuyển trung bình và dài.
  • Mô hình lựa chọn phương tiện cạnh tranh (Ô tô cá nhân, Xe đạp): Ước lượng xác suất sử dụng ô tô và xe đạp thay thế xe máy theo các mức thu nhập, cơ cấu hộ gia đình (sự hiện diện của trẻ em dưới 11 tuổi) và các kịch bản chính sách quản lý giao thông.
  • Xác định động lực và rào cản: Nhận diện rõ các yếu tố định tính và định lượng có ý nghĩa thống kê cũng như các yếu tố không tìm thấy sự tác động đối với quyết định đổi phương tiện.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và vận dụng thành công lý thuyết hành vi người tiêu dùng và lý thuyết tối đa hóa thỏa dụng có bù trừ vào lĩnh vực tổ chức và quản lý vận tải hành khách đô thị tại Việt Nam.
  2. Xây dựng hoàn chỉnh khung mô hình phân tích lựa chọn đa thức tích hợp đồng thời các biến định lượng kỹ thuật của chuyến đi (cự ly, thời gian, chi phí) và các biến tâm lý hành vi định tính (chuẩn chủ quan, nhận thức môi trường, thói quen văn hóa đô thị) trong bối cảnh xuất hiện loại hình đường sắt đô thị.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng và định lượng chính xác về xác suất lựa chọn phương tiện di chuyển của người dân Hà Nội đối với các chuyến đi thường xuyên.
  2. Xác định rõ các động lực thúc đẩy và rào cản cản trở người dân chuyển đổi từ phương tiện cá nhân (đặc biệt là xe máy) sang phương tiện công cộng (xe buýt và ĐSĐT).
  3. Đề xuất các giải pháp quản lý nhu cầu đi lại theo hướng bền vững:
    • Nhóm giải pháp kéo (thu hút): Tối ưu hóa biểu đồ chạy xe buýt, phát triển hạ tầng kết nối tiếp chuyển hành khách tại các nhà ga ĐSĐT Cát Linh – Hà Đông, hoàn thiện chính sách giá vé liên thông, cải thiện độ tiện nghi và tin cậy của dịch vụ.
    • Nhóm giải pháp đẩy (hạn chế phương tiện cá nhân): Điều tiết không gian đỗ xe, áp dụng cơ chế chi phí sử dụng phương tiện cá nhân tại khu vực lõi đô thị phù hợp với lộ trình nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống VTHKCC.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát hành vi đối với các chuyến đi thường xuyên trong phạm vi đô thị Hà Nội; dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập cắt ngang tại một thời điểm (tháng 05/2022) khi tuyến ĐSĐT Cát Linh – Hà Đông mới đi vào vận hành giai đoạn đầu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các chuyến đi không thường xuyên, chuyến đi liên tỉnh hoặc vận tải hành khách du lịch.
    • Nghiên cứu so sánh hành vi lựa chọn giữa các phương tiện sử dụng động cơ điện (xe máy điện, ô tô điện, xe buýt điện) với phương tiện sử dụng động cơ đốt trong truyền thống nhằm phục vụ chiến lược chuyển đổi giao thông xanh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Giao thông Vận tải Hà Nội, Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông đô thị Hà Nội trong việc xây dựng các đề án điều tiết giao thông, quản lý nhu cầu đi lại và lộ trình hạn chế phương tiện cá nhân.
  • Đơn vị khai thác vận hành: Tổng công ty Vận tải Hà Nội (Transerco), Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) trong việc cải tiến chất lượng dịch vụ, thiết kế biểu đồ vận hành và phát triển mạng lưới tuyến buýt gom kết nối nhà ga đường sắt.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tổ chức và quản lý vận tải, Kinh tế vận tải, Quy hoạch đô thị tại các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành GTVT.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương tiện cơ sở được lựa chọn làm chuẩn so sánh trong mô hình hồi quy của luận án là phương tiện nào?

Trong mô hình Hồi quy Logit đa thức (Multinomial Logistic Regression), tác giả lựa chọn xe máy làm phương tiện cơ sở (reference category) để so sánh xác suất lựa chọn của các phương tiện khác gồm xe buýt, đường sắt đô thị, ô tô cá nhân và xe đạp.

2. Mục tiêu thị phần VTHKCC tại Hà Nội đến năm 2030 theo Quyết định 519/2016/QĐ-TTg được nêu trong văn bản là bao nhiêu?

Quyết định số 519/2016/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030, hệ thống VTHKCC đáp ứng 50–55% nhu cầu đi lại trong đô thị trung tâm (trong đó đường sắt đô thị đáp ứng 25–30%, xe buýt đáp ứng 25%). Sau năm 2030, tổng tỷ lệ đáp ứng đạt 65–70% (đường sắt đô thị đáp ứng 35–40%, xe buýt đáp ứng 30%).

3. Thực trạng thị phần đảm nhận nhu cầu đi lại của các loại phương tiện tại Hà Nội năm 2021 như thế nào?

Theo số liệu thống kê năm 2021 được luận án trích dẫn, xe máy là phương tiện chủ lực đáp ứng 4.347,68 triệu lượt hành khách (77,98%); ô tô con đáp ứng 278,2 triệu lượt hành khách (4,99%); và VTHKCC bằng xe buýt đáp ứng 484,5 triệu lượt hành khách (8,69%).

4. Dữ liệu khảo sát thực tế của luận án được thu thập trong khoảng thời gian nào và xử lý bằng công cụ gì?

Dữ liệu khảo sát sơ cấp được thực hiện thu thập trực tiếp từ ngày 06/05/2022 đến ngày 20/05/2022 tại TP Hà Nội, được làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0.

5. Tuyến đường sắt đô thị cụ thể nào tại Hà Nội được đưa vào bối cảnh nghiên cứu của đề tài?

Tuyến đường sắt đô thị được đưa vào bối cảnh khảo sát và phân tích lựa chọn thực tế trong luận án là tuyến Cát Linh – Hà Đông, tuyến ĐSĐT đầu tiên đi vào vận hành thương mại tại Hà Nội.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Hường đã giải quyết bài toán cấp thiết về quản lý giao thông đô thị Hà Nội thông qua việc chuyển dịch cách tiếp cận từ cung ứng kỹ thuật sang nghiên cứu hành vi người tiêu dùng vận tải. Bằng phương pháp kết hợp định tính và định lượng với mô hình Hồi quy Logit đa thức trên nền tảng lý thuyết thỏa dụng và tâm lý học hành vi, công trình đã lượng hóa các yếu tố tác động đến xác suất lựa chọn phương tiện của người dân. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản lý và doanh nghiệp vận tải trong việc hoạch định chính sách phát triển hệ thống giao thông công cộng bền vững.