chương 1 đã trình bày lý do chọn và lý do lựa chọn đề tài. Từ đó định hướng được mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu cần phải hoàn thành. Đồng thời, xác định đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu (PPNC) để giải quyết được các vấn đề nhằm hoàn thành mục tiêu nghiên cứu và đóng góp của đề tài. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 2. Khái niệm về hành vi tiêu dùng Lewis (2006) cho rằng hành vi tiêu dùng là quá trình cho phép cá nhân hay một nhóm được lựa chọn, sử dụng, mua sắm các loại sản phẩm dịch vụ hoặc ngược lại. Quá trình dẫn đến hành vi này thông qua quá trình suy nghĩ, kinh nghiệm tích lũy để thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của họ. Walsh và Mitchell (2010) cho rằng hành vi người tiêu dùng sẽ mua các loại sản phẩm gì, tại đâu, trong bao lâu, bao nhiêu lần ? Để đưa ra được quyết định thì cần phải trải qua hàng loạt các đánh giá và suy ngẫm.
Theo Kotler (2001), hành vi của khách hàng chủ yếu là quá trình để ra quyết định và hoạt động ra quyết định: Bảng 2.1: Hành vi của khách hàng Quá trình ra quyết định mua Quyết định của người mua Thu thập để hình thành nhận thức Chọn sản phẩm Xem xét thông tin Chọn công ty Phân tích, đánh giá thông tin Chọn đơn vị phân phối Ra quyết định hành vi Chọn thời gian Hành vi sau khi mua Chọn số lượng Nguồn: Kotler (2001) Tóm lại, các nghiên cứu trên đều khẳng định hành vi tiêu dùng là quá trình từ lúc đầu cho đến lúc mua hàng và có thể kéo dài sau đó. Bao gồm cả các hoạt động đánh giá, tìm hiểu, trải nghiệm và nhận xét sản phẩm. Hay nói cách khác, việc ra 9 quyết định mua và sử dụng bất cứ hàng hóa dịch vụ nào của khách hàng sẽ đi theo quy trình cụ thể. Quyết định mua hàng của người tiêu dùng Tiến trình quyết định mua của khách hàng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua.
Trong đó, quyết định chọn mua sản phẩm là một quá trình đánh giá hành vi mua dựa trên nhu cầu và thông tin, đánh giá của bản thân người mua về nhóm sản phẩm đó. Trong giai đoạn này, người mua sắp xếp các nhãn hiệu trong nhóm nhãn hiệu đưa vào để lựa chọn theo các thứ bậc và từ đó bắt đầu hình thành ý định mua nhãn hiệu được đánh giá cao nhất. Bình thường, khách hàng sẽ mua nhãn hiệu được ưu tiên nhất (Ajzen, 1991). Ngoài ra, Kotler và Armstrong (2015) cho rằng các yếu tố tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của NTD là các nhân tố chính cơ bản quyết định giá trị và sự thỏa mãn của khách hàng, đó là giá trị (chất lượng) sản phẩm dịch vụ, giá trị nhân sự, giá trị hình ảnh.
Bên cạnh đó, đặc tính cá nhân của khách hàng là những yếu tố chính ảnh hướng đến quyết định mua sắm của NTD. Vì vậy theo đúng tiến trình này thì quyết định tiêu dùng của khách hàng nó sẽ xuất phát sau ý định tiêu dùng của khách hàng hay nói cách khác khi đã có ý định tiêu dùng thì quá trình đẩy cao nhu cầu để đưa ra quyết định cho khách hàng cần được người bán thực hiện liên tục thông qua việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng. Các mô hình lý thuyết về quyết định mua của người tiêu dùng 2. Mô hình hành động hợp lý (TRA) Mô hình TRA cho thấy hành vi của người tiêu dùng cũng như xác định khuynh “ hướng hành vi của họ.
Theo Fishbein và Ajzen (1976), các thành phần trong mô ” hình TRA bao gồm: Thái độ thể hiện những nhận thức của cá nhân về các thuộc tính của sản phẩm, 10 có thể được đo lường bằng tổng hợp của sức mạnh niềm tin và đánh giá niềm tin “ ” này. Chuẩn chủ quan được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân, được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,… cho rằng hành vi có nên được thực hiện hay không, được xác định bằng niềm tin chuẩn mực cho việc mong đợi thực hiện hành vi và động lực cá nhân thực hiện phù hợp với sự mong đợi đó. Hành vi là những hành động quan sát được của đối tượng được quyết định bởi xu hướng hành vi. Xu hướng hành vi đo lường khả năng chủ quan của đối tượng sẽ thực hiện một hành vi.
Được quyết định bởi thái độ của một cá nhân đối với các hành vi và chuẩn chủ quan.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975) Đối với sản phẩm hàng hóa tại các tổ chức kinh doanh để khách hàng có phát sinh hành vi sử dụng thì đầu tiên là phải phát sinh được niềm tin với thuộc tính 11 của sản phẩm này hay nói cách khác là sự an toàn, hạn chế rủi ro xảy ra. Thứ hai, là ảnh hưởng của xã hội đó chính là sự giới thiệu của những thân quen đã từng sử dụng dịch vụ giới thiệu cho NTD, điều này sẽ phát sinh những đánh giá ban đầu theo hướng chủ quan của NTD. Từ hai điều này sẽ hình thành nên xu hướng hành vi muốn mua hàng của NTD và thông qua những hoạt động xúc tác của tổ chức kinh doanh thì sẽ đưa ra được hành vi thật sự. Mô hình dự định hành vi (TPB) Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) được phát triển từ lí thuyết hành vi hợp lí (Ajzen và Fishbein, 1975).
Tác giả cho rằng xu hướng hành vi chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi cảm nhận. Một hành vi thực sự có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó.2: Thuyết hành vi dự định Nguồn: Ajzen (1991) Trong mô hình này đã chỉ ra để xuất hiện được xu hướng mua hàng của người NTD thì tập trung vào ba yếu tố đó là: Thái độ tích cực của NTD về tổ chức kinh doanh thông qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ hay thương hiệu của tổ chức. Chuẩn chủ quan là các tiêu chuẩn riêng của NTD về yêu cầu của sản phẩm dịch 12 vụ hay những cam kết cần có của tổ chức kinh doanh. Kiểm soát hành vi cảm nhận là quá trình trải nghiệm của NTD đối với tổ chức kinh doanh, sản phẩm dịch vụ thông qua việc tìm hiểu thông tin, xem xét sản phẩm dịch vụ bước đầu để đưa ra được những cảm nhận.
Nếu ba yếu tố này được phát sinh theo chiều hướng thuận lợi thì sẽ hình nền xu hướng hành vi mua, sau đó cộng thêm những yếu tố của tổ chức kinh doanh để gia tăng động lực mua hàng của NTD và đưa ra quyết định mua thực sự. Mô hình quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng Sproles và Kendall (1986) đã nhấn mạnh để tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ thì cần phải có các yếu tố thúc đẩy bao hàm bản chất của sản phẩm/dịch vụ và các yếu tố liên quan đến hoạt động chăm sóc và phát triển của tổ chức. Trong đó, bao gồm: Tính hoàn hảo Hình ảnh thương hiệu Tính mới lạ, thời trang Tình tiêu khiển, giải trí Giá cả, giá trị thu lại Quyết định tiêu dùng Bốc đồng, bất cẩn Bối rối do quá nhiều lựa chọn Trung thành với nhãn hiệu hay thói quen Hình 2.3: Mô hình quyết định tiêu dùng Nguồn: Sproles và Kendall (1986) Đối với mô hình của Sproles và Kendall (1986), tác giả có thể ứng dụng vào các tổ chức kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ mà NTD có xu hướng muốn tiêu dùng thì các yếu tố tạo động lực ra quyết định của NTD đó là: 13 Tính hoàn hảo, các sản phẩm dịch vụ với mọi hình thức của tổ chức kinh doanh phải có tính hoàn hảo có nghĩa là dịch vụ tư vấn và chăm sóc NTD cần được các tổ chức kinh doanh chú trọng và duy trì. Hình ảnh, thương hiệu thể hiện cho sự uy tín của tổ chức kinh doanh đối với NTD, việc mua sắm hàng hóa dịch vụ được xem là NTD uỷ thác cho tổ chức kinh doanh về việc thỏa mãn về nhu cầu của mình thông qua các sản phẩm dịch vụ được cung cấp uy tín, do đó, tổ chức kinh doanh phải tạo lòng tin với NTD thông qua sự nổi tiếng và thương hiệu về mọi mặt tích cực trong hoạt động lâu năm.
Sự mới lạ hay thời trang được xem là sự đa dạng phong phú về sản phẩm dịch vụ mà tổ chức kinh doanh cung cấp để kích thích NTD và tạo nhiều sự lựa chọn có lợi cho họ, đây cũng được xem là yếu tố cạnh tranh giữa các tổ chức kinh doanh trong quá trình tạo sự khác biệt và gia tăng độ thoả dụng cho NTD khi muốn sử dụng sản phẩm hay dịch vụ mới. Giá cả hay giá trị thu lại đại diện cho mức chi phí mà NTD phải bỏ ra để tiêu dùng các loại sản phẩm hay dịch vụ tại các tổ chức kinh doanh cung cấp. Giá cả cung cần phải hợp lý với năng lực tài chính của NTD và là khung đối chiếu so sánh với các tổ chức khác để NTD đưa ra quyết định có lợi và tiết kiệm khi mua sắm. Sự bốc đồng, bất cần hay sự rối bời là một trong những yếu tố đặc biệt để NTD lựa chọn vì quá nhiều lựa chọn, các yếu tố này tương đồng với sự ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như bạn bè, người thân hay gia đình đưa ra nhiều kinh nghiệm hay lời khuyên cho NTD, đây là nhân tố thiên về sự truyền miệng và trải nghiệm của NTD trước đây đến với NTD mới của tổ chức kinh doanh, do đó yếu tố này tại các nghiên cứu có thể phát triển thành sự tin cậy hoặc sự ảnh hưởng của xã hội.
Sự quen thuộc về thương hiệu có nét tương đồng với sự tin tưởng về uy tín lâu 14 năm khi mua hàng lâu năm của NTD tại các tổ chức kinh doanh. Có thể sự quen thuộc này không hẳn do thương hiệu lớn đem lại mà đến tiwf chất lượng dịch vụ, các yếu tố cạnh tranh với các đối thủ khác tạo ra thương hiệu lớn trong tâm trí của NTD. Do đó, NTD luôn ưu ái để sử dụng dù các đối thủ có dịch vụ tốt hơn. Vì vậy, yếu tố này khi phát triển tại tổ chức kinh doanh sẽ là các vấn đề liên quan đến sự đảm bảo, tính đáp ứng hay chất lượng dịch vụ được duy trì.