Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong hình thành và phát triển cụm liên kết ngành. Chương 2: Lý luận về vai trò của Nhà nước trong hình thành và phát triển cụm liên kết ngành. Chương 3: Thực trạng vai trò của Nhà nước trong hình thành phát triển cụm liên kết ngành: trường hợp ngành dệt may và đồ gỗ. Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện vai trò của nhà nước nhằm thúc đẩy hình thành và phát triển cụm liên kết ngành đến năm 2030.
5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỤM LIÊN KẾT NGÀNH 1.1 Tổng quan các công trình về nội dung nghiên cứu Michael Porter (1990) trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” đã đưa ra mô hình Kim cương về năng lực cạnh tranh quốc gia gồm 4 nhân tố: Điều kiện yếu tố SX; Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trong nước của công ty; các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp bổ trợ. Tác giả cho rằng Nhà nước có vai trò thực tế ảnh hưởng tới bốn nhân tổ quyết định tới năng lực cạnh tranh quốc gia này. Nhà nước có thể tác động và chịu tác động bởi mỗi nhân tố trong bốn nhân tố quyết định theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Điều kiện yếu tố SX chịu ảnh hưởng thông qua trợ cấp, các chính sách hướng tới thị trường vốn, chính sách về giáo dục và các chính sách tương tự.
Nhà nước định hình điều kiện nhu cầu trong nước thông qua việc các cơ quan của Nhà nước đặt ra các tiêu chuẩn hoặc yêu cầu về hàng hóa trong nước có thể kiểm soát hoặc ảnh hưởng tới nhu cầu của khách hàng. Chính sách của Nhà nước cũng có thể tác động tới chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh của công ty thông qua các phương thức như quy định về thị trường vốn, chính sách thuế và luật lệ chống độc quyền. Nội dung nghiên cứu đã đặt ra những vấn đề cốt lõi của vai trò Nhà nước tới năng lực cạnh tranh quốc gia vốn là nền tảng của việc hình thành và phát triển CLKN. Tea Petrin (2011) đã thực hiện nghiên cứu “Cụm là công cụ chính sách Nhà nước trong thúc đẩy năng lực cạnh tranh và thúc đẩy kinh tế tri thức”, đưa ra lập luận về sự can thiệp chính sách của Nhà nước vào thị trường là do sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào đầu tư vào giáo dục, bảo vệ các ý tưởng cá nhân và phát triển tinh thần DN….
Tác giả nêu lên vai trò quan trọng của Nhà nước trong tạo cơ chế, cơ hội xây dựng các chương trình thúc đẩy tri thức đến với DN tốt hơn. Tác giả cho rằng Nhà nước cần coi cụm là công cụ chính sách để thúc đẩy sự đổi mới; tăng cường năng lực cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế. Tác giả mới nêu ra được sự chú trọng của Nhà nước tới CLKN với vai trò trong đổi mới chứ chưa nêu ra được những vai trò Nhà nước cần có để thực hiện được chức năng đó. 6 Kuchiki (2007) đã thực hiện nghiên cứu “From Agglomeration to Innovation, upgrading industrial clusters in emerging economies”, ông đưa ra mô hình biểu đồ chính sách cụm: ví dụ cụm ngành công nghiệp (CNCN) tự động ở Trung Quốc.
Tác giả đề xuất mô hình chính sách cụm cho các nước châu Á với giả định rằng chính sách cụm công nghiệp (CCN) hiệu quả qua việc hình thành các khu công nghiệp (KCN), xây dựng năng lực DN địa phương và mời các DN mỏ neo đến KCN. Việc xây dựng năng lực địa phương bao gồm cơ sở hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực và điều kiện sống. Tác giả có nêu vai trò của chính quyền trung ương là xây dựng các chính sách công nghiệp phù hợp với phát triển CCN và chính quyền địa phương đóng vai trò then chốt trong các chính sách cụm. Các vai trò phù hợp của chính quyền địa phương là (1) Quản lý các KCN, (2) Thúc đẩy liên doanh liên kết giữa các DN Nhà nước và các nhà đầu tư nước ngoài, (3) Hình thành các liên doanh giữa DN nội địa và các nhà đầu tư nước ngoài, (4) hỗ trợ cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Tác giả đã nêu ra sự cần thiết của chính sách Nhà nước tạo ra các thể chế tốt trong hỗ trợ hình thành được các CLKN ở địa phương. CIEM (2011) đã xây dựng Đề án “Phát triển CCN, KCN gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT), tạo mạng liên kết SX và hình thành chuỗi giá trị” đề xuất Nhà nước phải đóng vai trò của nhà quản lý trong đưa ra các chính sách gắn kết sự phát triển CCN, khu công nghiệp với phát triển CNHT, trong đó, đề xuất các cơ chế chính sách phát triển các CLKN là công cụ chính sách trọng tâm để đạt các mục tiêu kể trên. Đề án nêu lên vai trò quan trọng của Nhà nước trong hình thành và phát triển CLKN. Nhà nước trung ương và địa phương nắm những vai trò nhất định trong huy động các nguồn lực và xây dựng một môi trường kinh doanh phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động liên kết giữa các DN.
Đây là tiền đề tốt để hình thành nên các CLKN trong thời gian tới. Đề án đề xuất Nhà nước cần định hướng chính sách phát triển CLKN theo hướng gắn kết sự phát triển CCN, KCN với phát triển CNHT, trong đó, phát triển các CLKN như là công cụ chính sách trọng tâm để tạo ra các mối liên kết. Các chính sách cần định hướng phát triển các mối liên kết giữa các DN và các tổ chức liên quan thông qua phát triển CLKN gắn kết với các vùng kinh tế ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất các chính sách và nội dung thực hiện cụ thể cho các bộ, ngành ở Việt Nam trong hình thành và phát triển CLKN. 7 Nguyễn Ngọc Sơn và cộng sự (2014) đã thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Phát triển cụm ngành công nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế”, bàn luận về vai trò của Nhà nước trong hình thành và phát triển CLNK.
Nội dung nghiên cứu đề cập tới Nhà nước có vai trò trong xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô có tính cạnh tranh. Nhà nước góp phần xây dựng các điều kiện đầu vào cho một môi trường kinh doanh hiệu quả với DN. Điều kiện sẵn có của một môi trường kinh doanh bao gồm tính hiệu quả, chất lượng và sự chuyên môn hóa của các điều kiện sẵn có cho DN. Các điều kiện này sẽ có tác động đến năng lực sáng tạo và năng suất lao động, bao gồm: vốn, con người, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng vật chất và hành chính, công nghệ thông tin.
Nhà nước cần xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới CNCN Việt Nam trong thời gian tới. Đây là vấn đề cốt lõi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam và thúc đẩy tham gia vào mạng lưới SX khu vực. IPP và CIEM (2013) đã xây dựng Báo cáo “Đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành dệt may trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương lân cận” đánh giá về vai trò của Nhà nước đối với sự hình thành CLKN dệt may Việt Nam. Nội dung báo cáo đã đề cập đến Nhà nước cần phối hợp cùng hiệp hội dệt may, tập đoàn dệt may để lên chiến lược xây dựng CLKN dệt may nhằm tận dụng lợi ích của CLKN như: Tăng cạnh tranh, tăng hợp tác và tạo tác động lan tỏa tới các DN trong cụm ngành.
Xây dựng CLKN dệt may ở Việt Nam liên quan đến chính sách công nghiệp, do đó vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Tập thể tác giả cho rằng, để thúc đẩy sự hình thành và phát triển của CLKN dệt may Việt Nam Nhà nước cần thể hiện vai trò trong ba vấn đề sau: Thứ nhất, đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi để thúc đẩy cạnh tranh, hợp tác và tạo tác động lan tỏa giữa các DN. Thứ hai, đảm bảo sự tiếp cận của DN đến nguồn lực và nhân tố SX: mục đích của biện pháp này là nhằm giúp các DN tiếp cận các nguồn lực SX dễ dàng với chi phí thấp nhất, qua đó hạ giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh. Thứ ba, thu hút đầu tư vào khâu SX nguyên phụ liệu, đặc biệt là khâu dệt, nhuộm và hoàn tất.
Rõ ràng, khâu SX nguyên phụ liệu là khâu quan trọng và có 8 giá trị gia tăng cao nhưng đang là khâu yếu kém nhất của ngành dệt may Việt Nam. Vướng mắt lớn nhất trong thu hút đầu tư vào khâu dệt nhuộm hiện nay là vấn đề xử lý nước thải. Do vậy, để giải quyết vấn đề này, đề xuất Nhà nước nên quy hoạch, xây dựng nhà máy dệt nhuộm có hệ thống xử lý nước thải tốt nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Bộ Công Thương (2014) đã xây dựng Đề án “Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị SX các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh: Điện tử và Công nghệ thông tin, Dệt may, Chế biến lương thực thực phẩm, Máy nông nghiệp, Du lịch và các dịch vụ liên quan” đánh giá về khả năng hình thành các CLKN ở Việt Nam và những hạn chế, rào cản trong thực tiễn thực hiện.
Đề án đã phân tích lợi thế của việc hình thành các chuỗi giá trị ở Việt Nam trong đó có bao gồm chuỗi giá trị dệt may và những đề xuất về vai trò của Nhà nước trong thực tiễn quản lý để thúc đẩy quá trình hình thành các CLKN đã nêu. Các Bộ, ngành cần xây dựng các chính sách, Đề án có liên quan để xây dựng CNHT, các chuỗi giá trị, hệ thống DN trong nước trong xây dựng cụm. Các nhiệm vụ có liên quan bao gồm xây dựng Đề án ưu tiên phát triển các DN thuộc các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao và soạn thảo Nghị định về phát triển CNHT. Đề án ưu tiên phát triển các DN thuộc các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao tập trung đề xuất các giải pháp, chính sách hỗ trợ cho các DN, trong khi chương trình tập trung vào các giải pháp, chính sách hình thành, phát triển CNCN và nâng cấp chuỗi giá trị SX.