chương 1 đề cập một cách hệ thống tổng quan các nghiên cứu tương tự đi trước, trong đó có nghiên cứu về việc nhận diện, hạch toán quản lý CPMT và các yếu tố tác động đến việc áp dụng KTQTCPMT. Ngoài ra, những khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu về tác động của KTQTCPMT đến hiệu quả hoạt động của DN cũng được đề cập. Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy KTQTCPMT đã được quan tâm và nghiên cứu áp dụng từ cuối thế kỷ 20 ở nhiều nước như Hoa Kỳ và Châu Âu. Nó đã được triển khai dần ở các quốc gia khác trên thế giới vào đầu thế kỷ XX trong đó có Việt Nam.
Nghiên kết luận mức độ áp dụng KTQTCPMT tại Việt Nam còn hạn chế và mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình. Các DN chưa có các hướng đi phù hợp với quy định về xây dựng, lập dự toán CPMT và lập báo cáo CPMT vào quy trình. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí môi trường trong doanh nghiệp sản xuất 2.
Tổng quan về kế toán quản trị chi phí môi trường trong doanh nghiệp sản xuất Hoạt động quản lý môi trường và kế toán quản trị đã luôn luôn có sự liên kết mật thiết với nhau từ những năm cuối của thế kỷ 20. Theo Bouma và cộng sự (2002) cho rằng: “Nhờ có kế toán quản trị, tiềm năng quản lý các vấn đề về môi trường đã được thể hiện.” Dưới đây là bảng 2.1 sẽ cung cấp một số khái niệm khác nhau về KTQTMT được trích ra từ các nghiên cứu: Bảng 2.1: Các khái niệm về kế toán quản trị môi trường Nguồn Định nghĩa Schaltegger & “KTQTMT là một thuật ngữ trong phạm vi hẹp, chỉ bao gồm Burritt (2000) khía cạnh tài chính của kế toán môi trường, giúp nhà quản trị ra quyết định và chịu trách nhiệm về kết quả của những quyết định của mình.” UNDSD (2001) “KTQTMT là kỹ thuật xác định, thu thập, phân tích các thông tin môi trường trong đó sử dụng cả hai loại thước đo về giá trị và hiện vật cho việc ra quyết định. Mục đích của việc sử dụng thông tin KTQTMT là đáp ứng cho các phân tích nội bộ của tổ chức và cho việc ra quyết định.” Nguồn: Burritt & Saka (2006) và Đỗ Thị Lan Anh (2023), “Nghiên cứu KTQTCPMT tại các DNSX xi măng Việt Nam” Mặc dù các khái niệm không hoàn toàn giống nhau nhưng chúng đều phản ánh rằng kế toán quản trị môi trường không phải là một hệ thống riêng biệt, mà nó là một bộ 12 phận của kế toán quản trị, có chức năng bổ sung, hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán quản trị và phục vụ việc ra quyết định quản lý DN. Theo Chang và Deegan (2010), một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng lý do mà các tổ chức áp dụng kế toán quản trị môi trường đó chính là CPMT.
Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp định nghĩa CPMT theo bảng sau: Bảng 2.2: Các định nghĩa về CPMT Nguồn Định nghĩa USEPA (1995) “CPMT bao gồm CP trực tiếp, CP ẩn, CP bất định và CP hình ảnh, mối quan hệ.” Nguyễn Thị Nga “CPMT là các CP phát sinh một cách bị động hoặc chủ động gắn (2017) với thiệt hại môi trường và bảo vệ môi trường của DN.” Nguồn: Đỗ Thị Lan Anh (2023), “Nghiên cứu KTQTCPMT tại các DNSX xi măng Việt Nam” Theo Jasch (2003): “KTQTMT có mục tiêu quan trọng nhất là đảm bảo rằng tất cả các CPMT liên quan trong sản xuất đều được xem xét khi đưa ra quyết định kinh doanh.” Theo IFAC (2005): “KTQTMT bao gồm: KTQTMT; KTQT doanh thu và các khoản thu nhập từ môi trường; kế toán đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực.” Hiện nay, tùy thuộc vào phương pháp kế toán quản trị môi trường sẽ có rất nhiều định nghĩa khác nhau được trình bày như trong bảng dưới đây: Bảng 2.3: Các định nghĩa về KTQTCPMT Nguồn Định nghĩa Nguyễn Thị Nga “KTQTCPMT là một bộ phận của KTQTMT, thực hiện việc xử (2017) lý và cung cấp thông tin về CPMT phục vụ chức năng quản trị DN.” 13 Lê Thị Tâm “KTQTCPMT là quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin (2017) CPMT cho quản trị nội bộ nhằm gia tăng lợi ích kinh tế và cải thiện hiệu quả môi trường hướng tới mục tiêu PTBV.” Nguồn: Nguyễn Đăng Học (2022), “KTQTCPMT trong các DNSX chăn nuôi tại Việt Nam” Điểm tương đồng giữa các khái niệm này nằm ở quy trình kế toán quản trị môi trường và việc cung cấp thông tin, chính sách môi trường phục vụ các quyết định quản lý DN với mục đích tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của DN, đạt được các mục tiêu về môi trường và sự PTBV. Vì vậy, để mục tiêu nghiên cứu được đảm bảo, nhóm nghiên cứu xác định chính sách kế toán môi trường như sau: “KTQTCPMT là việc nhận diện, phân tích và sử dụng thông tin CPMT để tối ưu hoá vấn đề môi trường của DN hướng đến mục tiêu PTBV.” Theo Nguyễn Thị Nga (2017): “KTQTMT tích hợp hai nguyên tắc chính của PTBV: môi trường và kinh tế.” Theo UNDSD: “KTQTCPMT làm tốt hơn, toàn diện hơn, nhận diện được các CP ẩn” và đóng góp tích cực vào các quyết định quản lý của công ty (UNDSD, 2001). Hơn nữa, thông tin CPMT được cung cấp còn giúp nhà quản lý nhận thức đầy đủ về CP này, từ đó DN sẽ có trách nhiệm hơn đối với môi trường. Nội dung kế toán quản trị chi phí môi trường trong doanh nghiệp sản xuất Thảo luận về KTQTMT, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC, 2005) nhận định rằng: “Kế toán quản trị môi trường là quản lý hoạt động kinh tế và môi trường thông qua việc triển khai và thực hiện hệ thống kế toán và hoạt động thực tiễn phù hợp có liên quan đến vấn đề môi trường.” KTQTCPMT là một phần của KTQTMT trong các DNSX và đóng một vai trò rất to lớn trong các DN vì nó sẽ giúp DN nhận diện và kiểm soát các CPMT một cách hợp lý, đầy đủ và chính xác để từ đó giúp DN tận dụng được các cơ hội để tiết kiệm CP bằng các phương án sản xuất kinh doanh thay thế, cung cấp thông tin cho các nhà quản trị ra quyết định.
14 Nội dung của KTQTCPMT bao gồm: Nhận diện CPMT; xây dựng định mức, lập dự toán CPMT; thu thập, xử lý cung cấp các thông tin thực hiện về CPMT; phân tích, so sánh các thông tin về CPMT và đánh giá trách nhiệm quản lý. Các lý thuyết được sử dụng 2. Lý thuyết thể chế 2. Khái niệm, các yếu tố thuộc lý thuyết thể chế Theo Scapens (1994): “Thể chế là hình thức áp đặt và sự gắn kết xã hội đối với hoạt động của con người.
Lý thuyết thể chế hiện nay cho rằng giữa chính các tổ chức có sự tác động qua lại thông qua quá trình bắt chước. Áp lực cưỡng ép (ALCE) Theo Nguyễn Thị Hằng Nga (2020): “Áp lực cưỡng ép là những áp lực xuất phát từ các quy định pháp lý của các cơ quan nhà nước”. Qua yếu tố này cho thấy cần tuân thủ các quy định của cơ quan nhà nước nhằm tránh những sai phạm. Áp lực quy chuẩn (ALQC) Theo Nguyễn Thị Hằng Nga (2020): “Áp lực quy chuẩn là những áp lực buộc các tổ chức phải tuân thủ các chuẩn mực nghiệp vụ, các quy định, nguyên tắc và đạo đức nghề nghiệp và được thực hiện thông qua giáo dục và các hiệp hội chuyên môn”.
Qua yếu tố này, bài nghiên cứu hướng tới việc hành vi của DN được xã hội chấp nhận, phải tuân theo chuẩn mực chung. Áp lực bắt chước (ALBC) Theo Meyer và Rowan (1977) định nghĩa: “Áp lực bắt chước là quá trình bắt chước những hoạt động được tạo ra trong mạng lưới các mối quan hệ xã hội”. Yếu tố này thể hiện phản ứng của một DN đối với các kỹ thuật đã được chứng minh hoặc thực tiễn ở các công ty cạnh tranh đã áp dụng. Từ đó, nhóm nghiên cứu cần xem xét các nghiên cứu trước đó khi phải đối mặt với những tình huống không chắc chắn.
Các yếu tố thể chế ảnh hưởng đến áp dụng kế toán quản trị chi phí môi trường Để hiểu rõ về việc áp dụng KTQTCPMT trong các DN, lý thuyết thể chế đã ra đời và được sử dụng cho công việc này. Bouma và Van der Veen (2002) đề xuất rằng nhận thức về tổ chức là một trong những yếu tố giải thích sự phát triển của kế toán quản trị môi trường doanh nghiệp. Quá trình bắt chước này sẽ làm cho các khái niệm và phương pháp KTQTMT trở thành vấn đề then chốt đối với một nhóm doanh nghiệp, và cuối cùng các khái niệm và cách tiếp cận này sẽ được thể chế hoá trong cộng đồng kinh doanh đó. Ball (2005), tại Canada, khi xã hội có ý thức bảo vệ môi trường, KTQTCPMT được áp dụng để đáp ứng với sự thay đổi trong xã hội.
Do đó, sự thay đổi về mức độ kết nối giữa tổ chức và môi trường thể chế của tổ chức, sẽ dẫn đến sự khác biệt trong thực hiện KTQTCPMT. Để các tổ chức và cá nhân được tạo động lực trong việc thay đổi hành vi thực hiện KTQTCPMT thì đòi hỏi nhiều hơn sự tham gia của cộng đồng vào việc BVMT. Lý thuyết dự phòng 2. Khái niệm và các yếu tố dự phòng Theo Hutaibat (2005): “Lý thuyết dự phòng được phát triển từ lý thuyết tổ chức vào khoảng giữa những năm 1960, và đến giữa những năm 1970 thì bắt đầu được áp dụng trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực kế toán.” Trong nghiên cứu, môi trường kinh doanh, chiến lược và công nghệ được xem là ba yếu tố dự phòng chính liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Phần tiếp theo, sẽ phân tích chi tiết về ba yếu tố này. Môi trường kinh doanh và nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh. Theo Chenhall (2003), “Môi trường kinh doanh là một yếu tố bất khả kháng của lý thuyết dự phòng.” Theo nghiên cứu của Gordon và Narayanan (1984); Gul và Chia (1994) các tác giả đã kiểm tra ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến thiết kế tổ chức và thiết kế hệ thống KTQT. Chiến lược môi trường của doanh nghiệp.
16 Nghiên cứu của Rao và Krishna (2009), “Chiến lược là một kế hoạch tổng thể của DN, nhằm triển khai nguồn lực để thiết lập một vị trí thuận lợi và cạnh tranh thành công với các đối thủ khác”. Trong bài, chiến lược của các DN được nghiên cứu ở phạm vi về môi trường của ngành Dệt may.