Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh chóng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò tiên phong tạo động lực tăng trưởng. Tại tỉnh Hải Dương, số lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đã tăng nhanh từ 254 dự án năm 2005 lên 368 dự án năm 2006 và đạt 413 dự án vào năm 2007. Lực lượng thực hiện các dự án này phát triển mạnh mẽ với 62 doanh nghiệp hoạt động năm 2007, trong đó loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 56%, công ty cổ phần ngoài quốc doanh chiếm 29% và doanh nghiệp cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước chiếm 14%. Khối doanh nghiệp này đóng góp khoảng 22% tổng số nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp nhỏ và vừa toàn tỉnh, đồng thời giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động.

Tuy nhiên, năng lực công nghệ của các nhà thầu xây dựng địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng. Vốn đăng ký bình quân giai đoạn 2006 - 2008 chỉ đạt khoảng 5,3 tỷ đồng mỗi doanh nghiệp, khoảng 80% máy móc thiết bị có năm sản xuất từ 1991 đến 2000, và tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuyên sâu chiếm tới 49,7% trong ngành thủy lợi. Thực trạng này dẫn đến tiến độ thi công nhiều công trình bị kéo dài và khó tiếp cận các gói thầu kỹ thuật phức tạp.

Nghiên cứu tập trung làm rõ vai trò quản lý của Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực công nghệ cho các doanh nghiệp xây dựng tại Hải Dương trong giai đoạn 2005 - 2007. Mục tiêu cụ thể là đánh giá thực trạng năng lực công nghệ theo 4 nhóm chỉ tiêu chuẩn hóa, phân tích mức độ lan tỏa của các chính sách khoa học công nghệ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cấp năng lực cạnh tranh, tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trị giá 10.969 tỷ đồng của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý công nghệ hiện đại được phát triển bởi các tổ chức quốc tế và các học giả đầu ngành:

Thứ nhất, mô hình cấu trúc công nghệ 4 thành phần theo quan điểm của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO). Công nghệ được cấu thành bởi 4 yếu tố tương tác hữu cơ: Phần kỹ thuật - Hardware (máy móc, thiết bị, dây chuyền thi công); Phần con người - Humanware (kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức của đội ngũ kỹ sư và công nhân); Phần thông tin - Inforware (dữ liệu, quy trình thiết kế, bí quyết kỹ thuật, tiêu chuẩn nghiệm thu); Phần tổ chức - Orgaware (thể chế quản lý, sắp xếp bộ máy, điều hành sản xuất).

Thứ hai, khung đánh giá năng lực công nghệ doanh nghiệp của Sanjaya Lall (1987) và Ernst cùng các cộng sự (1998), phân định năng lực công nghệ thành các bậc thang: năng lực đầu tư, năng lực vận hành sản xuất, năng lực cải tiến nhỏ, năng lực liên kết và năng lực đổi mới sáng tạo lớn. Năng lực công nghệ được định nghĩa là khả năng làm chủ các công nghệ hiện có một cách hiệu quả và thích ứng linh hoạt trước những thay đổi kỹ thuật lớn.

Thứ ba, lý thuyết quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, phân chia các công cụ can thiệp của Nhà nước thành 3 nhóm: công cụ cưỡng chế (tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, định mức R&D tối thiểu); công cụ điều hòa phối hợp (chiến lược phát triển ngành, liên kết viện trường - doanh nghiệp); công cụ khuyến khích hỗ trợ (ưu đãi thuế theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP, trợ giúp vốn theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP và Luật Khoa học và Công nghệ).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) nhằm khảo sát thực chứng 25 doanh nghiệp tiêu biểu đang trực tiếp thi công các dự án đầu tư xây dựng công trình tại tỉnh Hải Dương, phân bổ đồng đều trên 3 lĩnh vực then chốt: xây dựng dân dụng - công nghiệp, giao thông và thủy lợi. Cỡ mẫu 25 doanh nghiệp chiếm trên 40% tổng số doanh nghiệp xây dựng chính quy trên địa bàn tại thời điểm khảo sát năm 2007, đảm bảo tính đại diện thống kê cao.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2007 của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Chi cục Thống kê, Cục Thuế và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phiếu điều tra chuyên sâu kết hợp phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, giám đốc ban quản lý dự án và lãnh đạo sở ngành.

Phương pháp phân tích định lượng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: rất yếu/chưa có đến 5: rất tốt/thành thạo) để lượng hóa 4 nhóm chỉ tiêu: Năng lực vận hành (4 chỉ tiêu), Năng lực tiếp thu công nghệ (4 chỉ tiêu), Năng lực hỗ trợ tiếp thu công nghệ (4 chỉ tiêu) và Năng lực đổi mới (7 chỉ tiêu). Việc lựa chọn phương pháp này cho phép nhận diện chính xác điểm nghẽn kỹ thuật và đo lường khoảng cách giữa chính sách vĩ mô với thực tiễn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế trên 25 doanh nghiệp xây dựng tại Hải Dương mang lại những kết quả định lượng cụ thể:

Thứ nhất, có sự chênh lệch lớn giữa năng lực vận hành và năng lực đổi mới sáng tạo. Điểm đánh giá năng lực vận hành máy móc theo quy trình đạt mức cao nhất từ 2,8 đến 3,8 điểm (trung bình 3,2 điểm). Ngược lại, năng lực hỗ trợ tiếp thu công nghệ chỉ đạt 2,1 đến 3,1 điểm; năng lực đổi mới công nghệ rơi vào nhóm thấp nhất với thang điểm từ 1,5 đến 3,6 điểm (trung bình 2,4 điểm). Hầu hết các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở mức độ sao chép quy trình hoặc cải tiến phụ gia vật liệu đơn giản, hoàn toàn thiếu khả năng nghiên cứu và triển khai (R&D) các giải pháp kỹ thuật mới.

Thứ hai, hạ tầng thiết bị kỹ thuật bị hao mòn và lạc hậu. Thống kê máy móc theo năm sản xuất cho thấy tỷ trọng thiết bị chế tạo từ năm 1991 đến 2000 chiếm áp đảo tới 82,6% trong ngành giao thông, 78,8% trong ngành xây dựng và 82,9% trong ngành thủy lợi. Tỷ lệ thiết bị công nghệ mới sản xuất từ sau năm 2001 chỉ đạt mức khiêm tốn từ 15,8% đến 20,4%, trong khi vẫn còn khoảng 1% thiết bị cũ kỹ vận hành từ trước năm 1990.

Thứ ba, cơ cấu nhân lực mất cân đối trầm trọng. Tỷ lệ lao động phổ thông chiếm từ 41,4% đến 50,4% tổng số nhân sự (ngành thủy lợi chiếm 49,7% với 1.711 lao động phổ thông trên tổng số 3.438 người). Đội ngũ có trình độ đại học và cao đẳng chỉ đạt từ 16,2% đến 20%, trong khi lao động trình độ trên đại học chỉ chiếm tỷ lệ vỏn vẹn từ 0,23% đến 0,3% (8 người trong ngành thủy lợi).

Thứ tư, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng thụ hưởng chính sách còn rất hạn chế. Có 40% doanh nghiệp ứng dụng phần mềm kế toán, 48% dùng phần mềm quản lý sản xuất, 16% dùng phần mềm nhân sự và 0% doanh nghiệp sở hữu website quảng bá. Đáng chú ý, chỉ có 16% doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ nhờ tiếp cận các chính sách hỗ trợ tài chính của Nhà nước, trong khi 44% xuất phát từ tìm kiếm cơ hội lợi nhuận và 40% do áp lực cạnh tranh sinh tồn.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh rõ nét mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng lao động phổ thông và khai thác thiết bị cũ đã qua sử dụng từ 5 đến 20 năm của các nhà thầu nhỏ và vừa. Nguyên nhân cốt lõi là do 56% doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng, thiếu nguồn lực tài chính dài hạn để tái đầu tư chiều sâu. Mặt khác, hệ thống chính sách ưu đãi tài chính theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP và cơ chế hỗ trợ từ Nghị định 90/2001/NĐ-CP còn mang tính nguyên tắc vĩ mô, thủ tục chứng minh phức tạp khiến doanh nghiệp khó tiếp cận.

Mối liên kết 3 nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp) tại Hải Dương gần như bị đứt gãy khi 68% doanh nghiệp chỉ có phòng kỹ thuật phục vụ tác nghiệp hiện trường mà không duy trì bộ phận R&D. So sánh với các chỉ số công nghệ của khối doanh nghiệp công nghiệp trong nước do các tạp chí khoa học chuyên ngành công bố, khoảng cách công nghệ của doanh nghiệp xây dựng Hải Dương đang tụt hậu từ 10 đến 15 năm so với mặt bằng kỹ thuật hiện đại.

Để trực quan hóa các dữ liệu này, toàn bộ phân tích thực trạng có thể được minh họa tối ưu qua biểu đồ mạng nhện (radar chart) so sánh 4 trụ cột năng lực công nghệ và biểu đồ cột chồng (stacked bar chart) phân bổ cơ cấu năm sản xuất của máy móc thiết bị theo từng nhóm ngành giao thông, thủy lợi và xây dựng dân dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc nâng cấp năng lực công nghệ cho các nhà thầu xây dựng tại Hải Dương, 4 nhóm giải pháp chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, thành lập Quỹ Hỗ trợ Đổi mới Công nghệ tỉnh Hải Dương. Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp Sở Tài chính thành lập quỹ chuyên trách, trích từ 1,5% đến 2,0% ngân sách chi đầu tư phát triển hàng năm. Quỹ thực hiện hỗ trợ bù lãi suất vay vốn thương mại từ 3% đến 5%/năm cho các doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy móc hiện đại sản xuất sau năm 2005, mục tiêu nâng tỷ lệ thiết bị thế hệ mới của toàn tỉnh lên trên 45% trước năm 2012.

Thứ hai, triển khai Đề án Đào tạo và Chuẩn hóa Nhân lực Khoa học Kỹ thuật. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các trường đại học chuyên ngành mở các khóa bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn cho đội ngũ chỉ huy trưởng công trình, kỹ sư giám sát. Đề án đặt mục tiêu giảm tỷ lệ lao động phổ thông từ mức 49,7% xuống dưới 30%, đồng thời nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề và kỹ thuật lên trên 70% vào năm 2015.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế đấu thầu gắn với tiêu chí công nghệ. Sở Xây dựng và Sở Giao thông Vận tải sửa đổi hồ sơ mời thầu các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước (thuộc nguồn vốn 10.969 tỷ đồng đầu tư công), bổ sung điểm ưu tiên kỹ thuật từ 5% đến 10% cho các nhà thầu sở hữu hệ thống quản lý chất lượng ISO, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tiến độ và sở hữu dây chuyền thi công hiện đại.

Thứ tư, xây dựng Sàn Giao dịch và Cổng Thông tin Công nghệ Xây dựng. Sở Khoa học và Công nghệ giữ vai trò đầu mối vận hành hệ thống dữ liệu công nghệ trực tuyến, cung cấp dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ, thẩm định giá thiết bị và hỗ trợ pháp lý sở hữu trí tuệ cho 100% doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và ngành (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Giao thông Vận tải). Luận văn cung cấp khung phương pháp định lượng và bằng chứng thực nghiệm để tham mưu, ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển 62 doanh nghiệp xây dựng và quản lý hiệu quả hơn 400 dự án đầu tư công hàng năm.

Thứ hai, ban giám đốc và bộ phận quản lý kỹ thuật tại các doanh nghiệp xây dựng. Tài liệu đóng vai trò cẩm nang tự đánh giá 19 chỉ tiêu năng lực công nghệ, giúp doanh nghiệp xây dựng lộ trình loại bỏ 80% máy móc cũ kỹ, tái cấu trúc đội ngũ nhân lực và xây dựng chiến lược cạnh tranh bền vững khi tham gia đấu thầu.

Thứ ba, các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Kinh tế Xây dựng. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho giảng viên, học viên cao học trong việc tiếp cận phương pháp đánh giá năng lực công nghệ doanh nghiệp cấp địa phương với bộ số liệu khảo sát 25 doanh nghiệp chi tiết.

Thứ tư, các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ nhà thầu, tối ưu hóa hiệu quả giải ngân nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp xây dựng tại Hải Dương đang ở mức độ nào? Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn chỉ đạt mức trung bình với điểm số 3,2 trên thang điểm 5,0. Năng lực vận hành máy móc theo quy phạm đạt khá (2,8 - 3,8 điểm), nhưng năng lực đổi mới sáng tạo rất yếu (1,5 - 3,6 điểm), chủ yếu là cải tiến nhỏ mà chưa có hoạt động nghiên cứu phát triển quy chuẩn.

Vì sao chính sách ưu đãi tài chính theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP chưa phát huy hiệu quả cao tại địa phương? Kết quả khảo sát chỉ ra chỉ có 16% doanh nghiệp đổi mới công nghệ nhờ chính sách ưu đãi tài chính của Nhà nước. Nguyên nhân do thủ tục hành chính phức tạp, tiêu chí ưu đãi thuế TNDN 15 - 25% chưa sát với đặc thù của 56% doanh nghiệp xây dựng quy mô trách nhiệm hữu hạn có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng.

Thực trạng máy móc thiết bị ảnh hưởng như thế nào đến năng suất thi công của doanh nghiệp? Khoảng 80% máy móc thiết bị của các doanh nghiệp được sản xuất trong giai đoạn 1991 - 2000, nhiều thiết bị nhập khẩu cũ đã qua sử dụng từ 5 đến 20 năm. Tình trạng này khiến chi phí bảo dưỡng tăng cao, tiêu hao nhiều nhiên liệu, làm giảm năng suất lao động và hạn chế khả năng trúng thầu tại các dự án có yêu cầu kỹ thuật phức tạp.

Cơ cấu lao động hiện nay bộc lộ những rủi ro gì cho các nhà thầu địa phương? Lực lượng lao động phổ thông chiếm tỷ trọng quá lớn từ 41,4% đến 50,4% (ngành thủy lợi là 49,7%), trong khi nhân sự có trình độ trên đại học chỉ chiếm khoảng 0,23%. Sự thiếu hụt nghiêm trọng kỹ sư công nghệ và công nhân kỹ thuật bậc cao khiến doanh nghiệp gặp nhiều sự cố kỹ thuật và khó tiếp nhận các quy trình công nghệ mới.

Doanh nghiệp xây dựng quy mô vừa và nhỏ nên ưu tiên đổi mới công nghệ ở khâu nào trước? Doanh nghiệp nên ưu tiên chuyển đổi số trong công tác quản lý thông qua việc nâng tỷ lệ sử dụng phần mềm quản lý sản xuất từ mức 48% hiện nay lên 100%, đồng thời ứng dụng công nghệ phụ gia bê tông và cơ giới hóa khâu thi công nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất và rút ngắn tiến độ công trình.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 4 thành phần công nghệ và khung đánh giá năng lực công nghệ doanh nghiệp của UNIDO và ESCAP.
  • Khảo sát thực chứng 25 doanh nghiệp xây dựng tại Hải Dương, chỉ rõ thực trạng năng lực vận hành đạt 3,2 điểm trong khi năng lực đổi mới chỉ đạt 2,4 điểm.
  • Phân tích bức tranh máy móc thiết bị với 80% sản xuất giai đoạn 1991 - 2000 và cơ cấu lao động có tới 49,7% là lao động phổ thông.
  • Làm rõ nguyên nhân khiến các chính sách hỗ trợ vĩ mô như Nghị định 90/2001/NĐ-CP và Nghị định 119/1999/NĐ-CP chưa thẩm thấu sâu vào 62 doanh nghiệp xây dựng địa phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi gồm thành lập quỹ hỗ trợ công nghệ, chuẩn hóa nhân lực kỹ thuật, đổi mới tiêu chí đấu thầu và vận hành sàn giao dịch công nghệ.

Về định hướng tiếp theo, tỉnh Hải Dương cần khẩn trương thể chế hóa các giải pháp chính sách trong giai đoạn 2008 - 2010 nhằm hỗ trợ khối doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu nâng cấp đô thị loại 2 vào năm 2010. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp, đẩy mạnh đầu tư chiều sâu cho khoa học công nghệ để bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.