phần mở đầu, nội dung 3 chương với 7 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 11 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài Harold Lever và Christopher Huhne (1985), “Nợ và Nguy hiểm”, [18].
Trong cuốn sách này, các tác giả cho rằng: Đối với các nước đang phát triển có quy mô kinh tế còn nhỏ nên S (tiết kiệm) trong nước thấp, không thể cung ứng đủ nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng (KCHT) KT - XH. Do đó, các nước đang phát triển phải nhập khẩu tư bản, thu hút vốn nước ngoài, nhận viện trợ phát triển chính thức hoặc vay nợ nước ngoài bù đắp thiếu hụt vốn cho phát triển KCHT. Nếu nhập khẩu tư bản và vay nợ quá mức cho phép sẽ mất an toàn tài chính đối ngoại. Để có thể trả nợ nước ngoài, chính phủ phải chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay nước ngoài phát triển KCHT.
Chính phủ còn phải chủ động điều chỉnh cơ cấu đầu tư công, duy trì nợ công và nợ nước ngoài ở mức chấp nhận được; chỉ có như vậy, vay nợ mới không lọt vào vòng nguy hiểm. Christina Malmberg Calvo (1998), “Options for Managing and Financing Rural Transport Infrastructure” (Các giải pháp quản lý và tài chính cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn), [57]. Trong cuốn sách, tác giả cho rằng, trong các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, từ 60% – 80% của tất cả các vận tải hành khách và vận chuyển bằng đường bộ - hình thức tiếp cận chính cho hầu hết các cộng đồng nông thôn. Tuy nhiên, nhiều triệu km đường bộ ở các nền kinh tế đang phát triển đều bị quản lý kém.
Công trình nêu lên, một trong những cách hiệu quả nhất để thúc đẩy các chính sách đúng đắn để quản lý và tài trợ mạng lưới đường bộ đó là thương mại hóa. Công trình bàn luận về vấn đề trung tâm đang nổi lên là đưa hệ thống đường bộ vào thị trường, đưa chúng vào cơ sở phí theo dịch vụ và quản lý chúng giống như một doanh nghiệp. Theo Anderson, “Đầu tư công (ròng) là phần chi tiêu công làm gia tăng tích lũy tài sản”. Nguyên nhân các Chính phủ chi tiêu công là từ những thất bại của thị trường, tại đó tư nhân cung cấp hàng hóa không có hiệu quả.
Anderson cho rằng, vai trò của Chính phủ trong đầu tư công nếu chỉ quá tập trung vào chi tiêu chính phủ mà bỏ qua một dạng đầu tư đó là đầu tư tư nhân sẽ là một cách tiếp cận rất hạn hẹp, làm giảm vai trò tiềm năng của Chính phủ cung cấp KCHT công cộng. Thể hiện rõ ràng nhất trong hợp tác công tư, hầu hết chi đầu tư thực hiện bởi khu vực tư nhân mà mục đích của hoạt động đầu tư này là nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ công; bên cạnh đó, vai trò của Chính phủ trong dự án công tư là giám sát, quản lý, gánh chịu rủi ro và là người mua tài sản cuối cùng. Cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Anh, cũng được xuất bản bằng tiếng Tây Ban Nha. Tác giả cuốn sách cho rằng: Ngành vận tải nông sản ở Mỹ Latinh và Caribê là một thành phần quan trọng trong chuỗi cung ứng thực phẩm, góp phần đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội ở các nước này.
Các hệ thống vận chuyển thực phẩm hiệu quả và phát triển tốt rất quan trọng cho sự sống còn của hàng ngàn người và là yếu tố quan trọng cho sự thành công hay thất bại của các ngành kinh tế mũi nhọn như nông nghiệp và các hoạt động thương mại lớn khác trong nước và quốc tế. Cuốn sách trình bày những nghiên cứu chi tiết về các vấn đề gặp phải của bao gồm 17 quốc gia. Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào những trở ngại do các nông dân sản xuất nhỏ phải đối mặt và đề xuất các can thiệp chính sách, chương trình có thể để cải thiện tình hình ở những khu vực khó khăn nhất với 13 những ảnh hưởng đối với toàn bộ dân số. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn góp phần tăng năng suất và bảo đảm lưu thông sản phẩm lương thực trong khu vực Mỹ Latinh và vùng Caribê.
Điều đó đòi hỏi phải có sự can thiệp của các cơ quan chịu trách nhiệm về lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ (các cơ quan nhà nước và tư nhân) ở khu vực thành thị và nông thôn trong việc xây dựng hệ thống giao thông nông thôn và bảo dưỡng đường nông thôn. Những công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu về phát triển kết cấu hạ tầng, kết cấu hạ tầng giao thông Đỗ Hoài Nam và Lê Cao Đoàn (2001), “Xây dựng hạ tầng cơ sở ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, [29]. Cuốn sách đã đưa ra những khái niệm cơ bản về hạ tầng cơ sở ở nông thôn, hạ tầng cơ sở ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) ở Việt Nam.
Các tác giả đã làm rõ tầm quan trọng của hạ tầng cơ sở ở nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, thực trạng hạ tầng cơ sở ở nông thôn, kinh nghiệm của một số nước trong phát triển hạ tầng cơ sở ở nông thôn, từ đó, các tác giả đã đề ra một số giải pháp phát triển hạ tầng cơ sở ở nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Tác giả luận giải vai trò của phát triển KCHT kinh tế trong quá trình CNH, HĐH và sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đánh giá thực trạng, đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển KCHT kinh tế và phát huy vai trò của nó đối với củng cố quốc phòng ở nước ta. Phạm Thanh Khôi, Lương Xuân Hiến (2006), “Một số vấn đề kinh tế xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng”, [24]. Cuốn sách đã nghiên cứu một số vấn đề KT - XH đặt ra trong 14 tiến trình CNH, HĐH, đồng thời, đề ra những quan điểm, giải pháp trong quá trình CNH, HĐH ở khu vực đồng bằng sông Hồng, trong đó, tác giả đặc biệt coi trọng việc phát triển KCHT làm cơ sở cho quá trình CNH, HĐH.
Phạm Sỹ Liêm (2006), “Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng: cơ hội và thách thức”, [25]. Bài viết tập trung làm rõ cơ hội và thách thức trong quá trình đầu tư phát triển KCHT ở Việt Nam. Tác giả cũng chỉ ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư cho phát triển KCHT ở Việt Nam thời gian tới. Nguyễn Đức Tuyên (2008), “Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh kinh nghiệm và giải pháp”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, [48].
Tác giả làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển hạ tầng KT - XH ở khu vực nông thôn tỉnh Bắc Ninh; đi sâu đánh giá thực trạng, nguyên nhân những hạn chế trong quá trình phát triển hạ tầng KT - XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh, tìm hiểu kinh nghiệm của các tỉnh lân cận trong phát triển hạ tầng KT - XH. Luận án đề ra một số giải pháp phát triển KCHT KT – XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh. Tác giả đã nghiên cứu sâu về nội dung, đặc trưng KCHT kỹ thuật, nguyên tắc và những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến phát triển hạ tầng kỹ thuật; phân tích thực trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật trong quá trình CNH, HĐH trên địa bàn Hải Dương qua các thời kỳ, đưa ra các giải pháp, đặc biệt có giải pháp về huy động vốn để phát triển KCHT kỹ thuật trong quá trình thực hiện CNH, HĐH trên địa bàn Hải Dương trong thời gian đến năm 2020. Nguyễn Quang Minh (20110, “Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh Hóa 15 hiện nay”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, [28].
Tác giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về KCHT kinh tế nông thôn, phát triển KCHT kinh tế nông thôn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm phát triển KCHT kinh tế nông thôn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thanh Hóa, đặc biệt có giải pháp: “Nâng cao nhận thức tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động của các tổ chức, lực lượng và các thành phần kinh tế trong toàn tỉnh đối với nhiệm vụ phát triển KCHT kinh tế nông thôn”, “Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương, nhất là chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển KCHT kinh tế nông thôn trên địa bàn”, trong các giải pháp này đã luận giải phần nào vai trò nhà nước trong phát triển KCHT kinh tế nông thôn. Bài viết tập trung làm rõ những hạn chế trong công tác quy hoạch và đầu tư xây dựng các công trình KCHT đồng thời chỉ ra biện pháp để nâng cao chất lượng quy hoạch và đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng trong thời gian tới ở Việt Nam. Trần Minh Phương (2012), “Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Kinh tế , [34]. Luận án đã tổng quan về những lý luận cơ bản và làm sáng tỏ khái niệm về KCHT, KCHT giao thông, phát triển KCHT giao thông; vai trò của KCHT giao thông đối với phát triển kinh tế và xã hội; những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển KCHT giao thông; làm rõ quan niệm về CNH, HĐH và yêu cầu của CNH, HĐH đối với phát triển KCHT giao thông; đề xuất các chỉ tiêu mang tính định lượng (quy mô và chất lượng) và mang tính định tính (đồng bộ, kết nối, cạnh tranh và năng lực quản lý.) phát triển KCHT giao thông đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH.
Luận án nhận định rằng, phát triển KCHT giao thông bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng để đáp 16 ứng nhanh yêu cầu CNH, HĐH đất nước thì những chính sách của Nhà nước đóng vai trò quan trọng, là nhân tố cơ bản chi phối sự phát triển của KCHT giao thông. Xu hướng tất yếu trong quá trình CNH, HĐH đất nước là phải xác định được định hướng phát triển KCHT giao thông phù hợp với các điều kiện thực tiễn về đường bộ được trải mặt, đường cao tốc, đường sắt.