CHƯƠNG I. Tổng quan về mạng lưới đường GTNT ở Việt Nam.1 Mạng lưới đường GTNT ở Việt Nam: Mạng lưới đường giao thông nông thôn là bộ phận giao thông địa phương nối tiếp với đường quốc lộ, đường tỉnh nhằm sản xuất Nông – Lâm – Ngư nghiệp và phục vụ giao lưu kinh tế - văn hóa – xã hội các làng, xã, thôn xóm. GTNT đường bộ được hiểu là từ đường huyện trở xuống, bao gồm đường huyện (ĐH), đường xã (ĐX), đường thôn xóm (ĐTX) và đường ra đồng. - Theo[1] mới chỉ phân cấp đến đường huyện và đường xã (từ đường quốc lộ đến đường xã), còn mạng lưới đường thôn xóm và đường ra đồng chưa được phân cấp.
- Theo Luật giao thông đường bộ, có quy định rõ tiêu chí xác định đường huyện và đường xã, cụ thể như sau: + Đường huyện là đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện; + Đường xã là đường nối trung tâm hành chính của xã với các thôn, làng, ấp, bản và đơn vị tương đương hoặc đường nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã. + Đường xã là đường nối trung tâm hành chính xã với các thôn hoặc đường nối giữa các xã (không thuộc đường huyện) có thiết kế cấp IV. + Đường thôn là đường nối giữa các thôn đến các xóm. Nguyễn Văn Tâm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật -2- + Đường xóm, ngõ là đường nối giữa các hộ gia đình (đường chung của liên gia.
+ Đường trục chính nội đồng là đường chính nối từ đồng ruộng đến khu dân cư.1 Về mạng đường Đến đầu năm 2010, cả nước có khoảng 272.861 km đường GTNT (gồm ĐH, ĐX, đường thôn xóm, chưa tính đường ra đồng ruộng) chiếm 82% tổng chiều dài mạng đường bộ, trong đó ĐH 47.278km, chiếm 44,58%; ĐTX khoảng 77. Nếu tính riêng đường huyện và đường xã có 195.840km, trong đó đường huyện chiếm 24,29%, đường xã chiếm 75,71%.2 Về kết cấu mặt đường Mặc dù trong những năm gần đây, Nhà nước và các địa phương đã tập trung đầu tư bằng nhiều nguồn vốn như trái phiếu Chính phủ, ODA, NSNN, kết hợp nguồn đóng góp của nhân dân để nâng cấp rải mặt đường đường GTNT nhưng tỉ lệ rải mặt vẫn còn thấp. Tỷ lệ rải mặt nhựa, BTXM mới đạt 28,08%, còn lại là mặt đường đá dăm, cấp phối, đất; đặc biệt đường đất còn chiếm tỷ lệ cao khoảng 42,98%. Bảng 1 Tỷ lệ kết cấu mặt đường GTNT toàn quốc và 6 vùng [9] (Đường huyện và đường xã) Nhựa, TT Vùng C.dăm Đất Khác BTXM 1 Vùng Đồng bằng 52.92 2 Vùng ven biển 12.27 3 Vùng BTB và ven biển TB 35.00 Nguyễn Văn Tâm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật -3- 4 Tây Nguyên 23.81 5 Đông Nam Bộ 14.82 6 Đồng bằng sông Cửu Long 30.34% Hình 2 Biểu đồ tỉ lệ rải mặt đường GTNT theo các vùng Tỉ lệ rải mặt đường ở các vùng không đều (xem bảng 1 và hình 1): Tính riêng đường huyện và đường xã thì đối với các vùng phát triển ở khu vực đồng bằng, ven biển chiếm tỉ lệ tương đối cao đặc biệt như vùng ĐBSH chiếm tới 52,72%, vùng Bắc trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ chiếm 35,43%; các vùng kém phát triển tỉ lệ đường rải mặt thấp, tỉ lệ đường đất còn cao, đặc biệt là vùng Trung du miền núi phía Bắc mới rải mặt được 12,44%, đường đất còn gần 45%.
Đối với hệ thống đường thôn, xóm tỉ lệ đường được trải mặt nhựa và bê tông xi măng chỉ chiếm khoảng 26,0%, còn lại là các loại đường đá dăm, cấp phối, đất; đặc biệt là tỉ lệ đường đất và khác còn rất lớn (chiếm khoảng 53,74 %). Nguyễn Văn Tâm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật -4- 1.3 Về cấp kỹ thuật đường Đường huyện vẫn chủ yếu là đường cấp VI, V, có nhiều tuyến vẫn chỉ là đường loại A - GTNT, đường xã vẫn chủ yếu là đường loại A, B - GTNT, chất lượng cầu cống trên hệ thống đường huyện, đường xã còn thấp và chưa đồng bộ. Đường thôn thôn xóm có quy mô đường nhỏ hẹp, rất nhiều đường chưa đạt loại A, B -GTNT, chất lượng nói chung còn xấu. Như vậy: so với năm 2005, tổng số km đường GTNT tăng thêm 34.811km, trong đó số km đường huyện tăng 1.563km, đường xã tăng 17.414 km và đường thôn xóm tăng 15.
Tỉ lệ trải mặt của đường huyện, đường xã và đường thôn xóm đều tăng hơn.4 Phân tích, đánh giá về mức độ bao phủ, tính kết nối và khả năng tiếp cận Mật độ đường km/km2 là chỉ tiêu đánh giá mức độ bao phủ của đường trên km2, chỉ số này càng cao thì chứng tỏ mạng lưới đường càng dày đặc. Mật độ đường km/1000 dân là chỉ tiêu đánh giá mức độ phục vụ của người dân, chỉ số này càng cao thì chứng tỏ mức độ phục vụ đi lại của người dân càng tốt. Mật độ đường GTNT toàn quốc đạt là 0,59 km/km2 và 2,27 km/1000 dân. Nếu tính riêng đường huyện và đường xã thì mật độ đường huyện đạt là 0,14km/km2 và 0,55 km/1000 dân, mật độ đường xã đạt là 0,45 km/km 2 và 1,72km/1000 dân, như vậy mật độ đường xã bằng khoảng 3 lần mật độ đường huyện là tương đối hợp lý.
Tỷ lệ các loại đường trong toàn quốc theo hình chóp tương đối hợp lí trong tiếp cận từ quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện và Nguyễn Văn Tâm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật -5- đường xã 1:1,45:2,84: 8,86 (bình quân cứ 1 km quốc lộ có 1,45 km đường tỉnh, 2,84 km đường huyện và 8,86 km đường xã). Mức độ bao phủ của đường GTNT vùng đồng bằng sông Hồng là lớn nhất toàn quốc đạt 1,16km/km2; mức độ phục vụ của đường GTNT vùng Bắc Trung Bộ và ven biển miền Trung tốt nhất nhất toàn quốc đạt 2,84 km/1000 dân. Để phát triển mạng đường GTNT rộng khắp kết nối thuận tiện với mạng lưới đường tỉnh, quốc lộ, đồng thời đem lại sự đi lại thông thoáng cho người dân cần phải mở thêm các tuyến mới, đặc biệt là các vùng Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và ven biển Trung bộ, Tây Nguyên. Ngoài ra, trong toàn quốc hiện vẫn còn những vùng trắng về đường giao thông cần phải xây dựng mới.
Theo số liệu khảo sát, đến cuối năm 2010, trên toàn quốc vẫn còn 149 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó nhiều nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn 86 xã, tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và ven biển miền Trung 48 xã. Tuy nhiên, do đặc điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sông nước, các xã tại các địa phương vùng sâu, vùng xa chưa có đường này vẫn có khả năng tiếp cận thông qua các phương tiện ghe, thuyền và bằng đường sông là chính (xin xem các bảng tiếp theo) Nguyễn Văn Tâm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật -6- Bảng 2 Tổng hợp các xã chưa có đường ô tô trên toàn quốc [9] Số xã chưa có STT Vùng đường ô tô 1 Đồng bằng sông Hồng 0 2 Trung du miền núi phía Bắc 7 Vùng BTB và Duyên hải miền 3 Trung 48 4 Tây Nguyên 8 5 Đông Nam Bộ 0 6 ĐBSCL 86 7 Tổng cộng 149 Bảng 3 Mật độ đường GTNT theo từng vùng [9] TT Vùng km/km2 km/1000 dân 1 Đồng Bằng sông Hồng 1.98 2 Trung du miền núi phía Bắc 0.79 3 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 0.30 5 Đông Nam Bộ 0.06 6 Đồng bằng sông Cửu Long 1.72 Nguyễn Văn Tâm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật -7- Nhận xét về hệ thống đường GTNT - Mạng đường GTNT phân bố chưa đều, mật độ đường còn có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, miền như mật độ đường vùng đồng bằng sông Hồng cao hơn 7 lần so với vùng Tây Nguyên,.; - Còn nhiều xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã (còn 149 xã) và nhiều xã chưa đi được vào mùa mưa; - Tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp, chủ đường đạt tiêu chuẩn cấp VI theo TCVN 4054-2005 và loại A, B theo 22TCN 210-92; quy mô đường nhỏ hẹp không đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội. Hầu hết đường GTNT chỉ có 1 làn xe; - Tải trọng cầu cống còn nhỏ, đa số cầu cống trên đường huyện đều có tải trọng dưới H13-X60; đường xã tải trọng cầu cống đạt dưới H8, nhiều tuyến đường GTNT qua sông suối chưa có cầu hoặc sử dụng cầu tạm, tràn đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung, Tây Nguyên; khổ cầu hẹp. - Chất lượng mặt đường còn xấu, tỷ lệ đường cấp phối, đất chiếm tỉ lệ cao trên 70%; 2.
Mạng lưới đường GTNT ở Thanh Hóa: 2.1 Hệ thống đường GTNT: Thanh Hoá là một tỉnh thuộc Bắc trung bộ có diện tích tự nhiên 11.168Km2, dân số gần 3,4 triệu người, có địa hình miền núi, đồng bằng, vùng biển rất đa dạng, phong phú; hệ thống giao thông hiện nay bao gồm: Đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, đường biển; nhìn chung hệ thống mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh, nhưng quy mô và kết cấu đang còn ở dạng cấp thấp, phát triển giao thông chưa đồng bộ. Toàn tỉnh có Nguyễn Văn Tâm Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật -8- 21.473,2 Km đường bộ (không kể đường nội đồng), trong đó đường GTNT có tổng chiều dài: 17.277,8 Km bao gồm: đường huyện: 1.667,0 Km, đường thôn (bản): 10. Đường GTNT nói chung quy mô còn thấp. Đường huyện, đường xã đạt tiêu chuẩn đường cấp V, cấp VI (một số đường) còn lại là đường GTNT loại A, loại B và thấp hơn.
Thực tế, có sự phân loại như sau: a) Đường xã: Toàn tỉnh có 4.608,5 km đường xã, hầu hết là đường cấp phối và đất, tỷ lệ đường được láng nhựa và BTXM còn thấp, chất lượng mặt đường xấu. Trong đó đường nhựa + BTXM có chiều dài khoảng 1.613 km chiếm 35,0%; đường cấp phối và đường đất có chiều dài khoảng 2995,1 km chiếm 65,0%. [6] b) Đường thôn (bản): Hiện nay toàn tỉnh có 10.489,5 km đường thôn (bản), hầu hết là đường cấp phối và đất, tỷ lệ đường được láng nhựa thấp, chất lượng mặt đường xấu. Trong đó đường nhựa và BTXM có chiều dài khoảng 3.586 km chiếm 34,20%; đường cấp phối và đường đất có chiều dài khoảng 6.[6] c) Đường giao thông kết hợp với đường đê: Trên địa bàn Thanh Hoá có 1023,41 km đê; trong đó 307,41km đê Trung ương từ cấp I đến cấp III và 716km đê địa phương từ cấp IV đến cấp V.
[6] - Đối với đê Trung ương: 42,6% đường nhựa + BTXM và 57,4% đường cấp phối+đất.