Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái quát về hệ thống giao thông. Sự phát triển của kinh tế cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã húc đẩy Việt Nam làm chủ nhiều công nghệ tiên tiến trong xây dựng công trình giao thông. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế đi đôi với sự gia tăng dân số, sự phát triển phương tiện cá nhân đã làm cho hệ thống hạ tầng giao thông của Việt Nam vốn thấp kém lại càng xuống cấp ngày càng tầm trọng. Sự hư hỏng này không những xảy ra ở hệ thống giao thông mặt đường bê tông nhựa mà còn ở hệ thống giao thông mặt đường bê tông xi măng – là hai loại hình mặt đường chính cho giao thông đường bộ và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên mạng lưới giao thông quốc gia.
Hệ thống giao thông Việt Nam [1] 2 Luan van Bên cạnh mặt đường nhựa, mặt đường bê tông xi măng [2] được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam, xuất hiện từ giao thông địa phương, giao thông nông thôn, tỉnh lộ, quốc lộ, những tuyến đường có lưu lượng xe thấp đến những tuyến có lưu lượng xe cao hơn như đường phố, đường trục chính, đường cao tốc. Mặt đường bê tông xi măng cũng thường được sử dụng ở hầu hết các sân bay, bến cảng, các đường chuyên dụng và các bãi đỗ xe với phạm vi áp dụng của loại mặt đường này ngày càng được mở rộng và có thể được phân ra thành một số loại như sau: • Mặt đường bê tông xi măng không cốt thép • Mặt đường bê tông xi măng cốt thép. • Mặt đường bê tông xi măng lưới thép. • Mặt đường bê tông xi măng ứng suất trước.
• Mặt đường bê tông xi măng cốt thép liên tục hoặc cốt phân tán. • Mặt đường bê tông xi măng lắp ghép. Mặt đường BTXM [2] Các loại mặt đường bê tông được phân loại và thiết kế tùy theo tình hình địa phương, cấp đường cũng như lưu lượng giao thông đã và sẽ có. Mặt đường bê tông xi măng không cốt thép thường được sử dụng cho hầu hết đường ô tô ở các cấp, các bãi 3 Luan van đỗ, bến cảng và sân bay với chiều dày của tấm từ 15 – 40cm và kích thước tấm bê tông thông thường khoảng 5m.
Trong khi đó, mặt đường bê tông xi măng cốt thép thường được sử dụng cho đường có lưu lượng xe lớn và các công trình đặc biệt có yêu cầu tuổi thọ cao như sân bay, đường chuyên dụng, v. Mặt đường BTXM cũng có những nhược điểm liên quan đến tồn tại các khe nối. Các khe nối này không những làm phức tạp thêm cho việc thi công và duy tu, bảo dưỡng, mà còn làm tốn kém, ảnh hưởng đến chất lượng vận hành, khai thác cũng như gây ra xe chạy không êm thuận. Vị trí khe nối lại là chỗ yếu nhất của tấm bê tông xi măng, khiến cho chúng dễ bị phá hoại ở cạnh và góc tấm.
Bên cạnh đó, với ưu điểm có tuổi thọ cao, mặt đường BTXM được đánh giá tốt với độ ổn định cao, không có sự thay đổi theo nhiệt độ như mặt đường nhựa, và thích hợp với tất cả các loại xe, có khả năng chống bào mòn, hệ số bám giữa bánh xe và mặt đường cao, an toàn cho xe chạy, chi phí duy tu, bảo dưỡng thấp, v. Do đó, nhiều loại mặt đường BTXM trong thực tế, bao gồm các loại mặt đường như mặt đường bê tông xi măng cốt thép với các lớp cốt thép chịu lực; mặt đường bê tông xi măng lưới thép nhằm là ngăn ngừa vết nứt do tải trọng và ứng suất nhiệt, hạn chế việc mở rộng khe nứt; mặt đường bê tông xi măng đầm lăn, mặt đường bê tông xi măng ứng suất trước được sản xuất nhằm khắc phục các vết nứt của mặt đường bê tông xi măng thông thường đồng thời tăng cường khả năng chịu lực của kết cấu dạng tấm; mặt đường bê tông xi măng lắp ghép, v.2 Các nghiên cứu liên quan Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mặt đường BTXM cũng như sự hư hại của nó [4, 5, 6, 7, 8, 9, 11]. Các nghiên cứu đã đề xuất nhiều chỉ số để đánh giá như chỉ số phân loại tình trạng kết cấu đường (PCR - Pavement Condition Rating), chỉ số phân loại tình trạng bề mặt đường ( SCR - Surface Condition Rating), chỉ số chất lượng mặt đường (PQI - Pavement Quality Index); Chỉ số tình 4 Luan van trạng CI (Condition Index) bao gồm chỉ số tình trạng kết cấu CIstruct (Pavememt Structure Condition Index) và chỉ số tình trạng mặt đường CIsurf (Pavement Surface Condition Index); Chỉ số khả năng phục vụ hiện tại của mặt đường (PSI - Present Service Index) [3], v.v… để đánh giá tình trạng kết cấu áo đường và sự phục vụ của nó, từ đó đề xuất các biện pháp duy tu sửa chữa phù hợp. Các nghiên cứu không những sử dụng phương pháp nghiên cứu là tập trung vào các số liệu khảo sát thực tế để phân tích, đánh giá [4] mà còn mô hình phần tử hữu hạn 2D bằng phần mềm Abaqus để phân tích tính toán kết cấu áo đường cứng [5] hay sử dụng máy đo động FWD để xác định sức chịu tải mặt đường cứng làm cơ sở khai thác và sửa chữa mặt đường bê tông xi măng, đường ô tô [6].
Các nghiên cứu chuyên sâu về thiết lập các phương trình chủ đạo nhằm xác định độ võng của tấm bê tông xi măng trên nền đàn hồi chịu tải trọng tập trung dựa trên lý thuyết biến dạng trượt bậc cao và giải bài toán theo phương pháp Galerkin [7] hay nghiên cứu về hiệu suất của mặt đường mềm [8] và phát triển các mô hình cơ nhiệt của cấu trúc mặt đường mềm [9] cũng được quan tâm khá toàn diện. Các nghiên cứu này rất cần thiết cho việc hoạch định duy tu sửa chữa để đảm bảo sự giao thông thuận tiện. Ở Việt Nam, chi phí cho công tác duy tu và bảo dưỡng đường đã chiếm một chi phí rất lớn trong tổng chi phí chi tiêu ngân sách hàng năm phục vụ cho phát triển hạ tầng giao thông, kinh phí được cấp như hiện khoảng 50 triệu đồng/l km/1năm đối với quốc lộ, 40 triệu đồng/l km/1năm đối với đường tỉnh. Chiều dài đường quốc lộ khoảng 16.758 km, kinh phí khoảng 838 tỷ đồng/năm.
Chiều dài đường tỉnh khoảng 77.170 km, kinh phí khoảng 3. Chi phí này chiếm khối lượng lớn trong tổng chi ngân sách của Việt Nam. Vì vậy, công tác đánh giá, dự báo hư hại để phục vụ cho công tác duy tu sửa chữa chưa được thực hiện một cách chính xác, khoa học mà đa phần chỉ xác định định tính trong một thời gian nhất định nên không thể chính xác. Khi các lưu lượng xe thay đổi, phát triển lên hàng ngày, hàng giờ thì mức độ hư hỏng mặt đường ngày càng gia tăng.
Không thể phân bổ kinh phí kế hoạch duy tu, sửa chữa trung, dài hạn cho các tuyến đường cụ thể do không thể 5 Luan van dự báo được mức hư hại mặt đường trong tương lai. Vì thế, việc đánh giá, nghiên cứu sự làm việc của mặt đường bê tông xi măng trong điều kiện giao thông Việt Nam sẽ đưa ra được các dự báo cần thiết về quy mô hư hỏng, dự báo chi phí, mức độ xuống cấp để từ đó làm cơ sở để bảo dưỡng, bảo trì, thiết kế phù hợp với tính chất công trình. Việc đánh giá mức độ hư hại của mặt đường bê tông xi măng nói riêng và kết cấi mặt đường nói chung là cần thiết dể có định hướng kế hoạch duy tu bảo dưỡng cho phù hợp, tiết kiệm chi phí và nâng cao an toàn của hệ thống giao thông. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá mức độ hư hại của áo đường theo thời gian, nhiệt độ hay lưu lượng xe, v.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu trong điều kiện giao thông của Việt Nam cũng như môi trường khí hậu nhiệt đới có những ảnh hưởng đặc biệt mà chưa có nhiều nghiên cứu để cập. 6 Luan van Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Phân loại hư hỏng. Các loại hư hỏng thường gặp xảy ra ở mặt đường BTXM có thể được phân ra thành 11 loại, bao gồm: Tấm bê tông hư hỏng mặt, lún xuống, nứt cạnh, nứt rộng lớn, nứt đứt gãy, mặt bê tông phồng lên, nứt ngang, mất cát bề mặt, nứt đứt quảng, vá mặt bê tông, vết bánh xe. Mật độ hư hỏng của mặt đường bê tông xi măng được đánh giá như sau [11]: Diện tích Thường Phạm vi Rất ít Không liên tục Toàn bộ hư hỏng xuyên rộng % bề mặt 5% 10% 35% 65% 100% Các hư hỏng chủ yếu bao gồm hư hỏng mặt, lún xuống, nứt cạnh, nứt rộng lớn, nứt đứt gãy, mặt bê tông phồng lên, nứt ngang, mất cát bề mặt, nứt đứt quảng, vá mặt bê tông, vết bánh xe và được các tác giả [11] phân loại mức độ hư hỏng của tấm bê tông xi măng thành 03 mức độ thấp, vừa, cao cho từng loại hư hỏng như sau: MỨC ĐỘ HƯ HỎNG STT LOẠI HƯ HỎNG THẤP (L) VỪA (M) CAO (H) Các khối nứt Các vết nức Các vết nứt do phân chia 01 Hư hỏng mặt nhiều hơn do thời tiết thành nhiều thời tiết phần 02 Lún xuống 5 – 15 mm 15 – 30 mm > 30 mm 03 Nứt cạnh 6 – 10 mm 11 – 15 mm >15 mm 7 Luan van MỨC ĐỘ HƯ HỎNG STT LOẠI HƯ HỎNG THẤP (L) VỪA (M) CAO (H) 04 Nứt rộng lớn 6 – 10 mm 11 – 15 mm > 15 mm 05 Nứt đứt gãy 6 – 10 mm 11 – 15 mm > 10 mm Mặt bê tông 06 phồng lên 5 – 15 mm 15 – 30 mm > 30 mm 07 Nứt ngang 6 – 10 mm 11 – 20 mm > 20 mm 08 Mất cát bề mặt 5 – 10 mm 11 – 25 mm > 25 mm Nứt ngẫu nhiên Nứt 02 đoạn và Nứt trên 02 và không ảnh ảnh hưởng đến đoạn và ảnh 09 Nứt đứt quảng hưởng đến tốc độ tốc độ của xe hưởng đến tốc xe chạy chạy độ của xe chạy Vá mặt bê tông Vá mặt bê tông Vá mặt bê tông trong tình trạng trong tình trạng trong tình trạng mặt đường hư mặt đường hư 10 Vá mặt bê tông mặt đường hư hỏng ít và tốc hỏng ít và không hỏng ít và tốc độ độ xe bị ảnh ảnh hưởng đến xe bị ảnh hưởng hưởng nghiêm tốc độ xe chạy trọng 11 Vết bánh xe 5 – 10 mm 11 – 30 mm > 30 mm 2.2 Chỉ số PCI đánh giá tình trạng Tấm bê tông xi măng.