PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Giao thông tĩnh trên địa bàn thành phố (TP) Hà Nội là một bộ phận quan trọng của tổ chức giao thông đô thị, là một loại hình dịch vụ, phục vụ không thể thiếu của mỗi đô thị. Phát triển hệ thống giao thông tĩnh, là cơ sở để xác định vị trí, quy mô hợp lý của bến, bãi đỗ xe. Phát triển hệ thống giao thông tĩnh phải phù hợp với QH kinh tế- xã hội (KTXH) và quy hoạch (QH) phát triển giao thông vận tải (GTVT), chính vì vậy phát triển giao thông tĩnh muốn đạt hiệu quả cao phải gắn với giải quyết tốt về vấn đề về cấu trúc, lựa chọn loại phương tiện, phân bố vận tải.
mà còn phải giải quyết hợp lý và đầy đủ về bố trí một hệ thống giao thông tĩnh, thuận tiện, thuận lợi và an toàn. Hà Nội hiện nay còn thiếu nhiều các bãi, điểm đỗ xe công cộng. Tỷ lệ đất dành cho giao thông tĩnh quá thấp trong khi tốc độ gia tăng cao về phương tiện, đặc biệt xe con cá nhân. Thiếu các điểm đỗ và bãi đỗ cho các loại xe lớn như xe tải, xe du lịch, các bãi đỗ xe hiện tại chỉ phù hợp với xe con, xe vận tải nhỏ là chính.
Các bến xe vận tải liên tỉnh cũng vậy, thường có quy mô nhỏ, gắn kết hệ thống chợ chính, chưa có bến xe tải đầu mối quy mô lớn. Tại các khu vực cửa đầu ngõ, đầu mối giao thông thiếu các điểm dừng hỗ trợ cho các tổ chức giao thông, cho nên phương tiện phải đỗ dưới lòng, lề đường càng gây ách tắc. Mạng lưới các điểm đỗ xe không hợp lý về mật độ, vị trí và khoảng cách. Hà Nội trong một thời gian dài với sự phát triển của khu vực dân cư và phương tiện vận tải, nhưng chưa tính đúng, tính đủ cho bãi đỗ xe, mà mới chỉ bố trí riêng biệt cho các nhà cao tầng.
Nhiều khách sạn, trung tâm thương mại không có chỗ đỗ xe, hiện tượng chiếm dụng đường phố làm nơi đỗ xe khá phổ biến. Quá trình xây dựng luôn chạy theo nhu cầu, ngay cả trong việc xác định vị trí và quy mô quỹ đất. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của điểm đỗ xe và bãi đỗ xe còn nghèo nàn, hình thức bãi đỗ đơn điệu, chủ yếu trên mặt đất, trang, thiết bị phục vụ thiếu và chưa đồng bộ. Nhiều tổ chức, các nhân tham gia kinh doanh, khai thác điểm đỗ xe dẫn đến tình trạng không kiểm soát và quản lý 1 nổi, gây lộn xộn, mất an toàn, phá vỡ QH và còn làm Nhà nước thất thu.
Như vậy, với tốc độ gia tăng các phương tiện giao thông hiện nay, diện tích giao thông tĩnh của Hà Nội đang thiếu trầm trọng và chỉ đáp ứng được 10- 15% yêu cầu thực tiễn. Để phát triển diện tích giao thông tĩnh, thời gian qua, Hà Nội đã kêu gọi xã hội hóa, huy động vốn đầu tư. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn rất thấp, do nhiều nguyên nhân như: Trình tự thủ tục pháp lý triển khai dự án phức tạp, kéo dài khiến nhà đầu tư mệt mỏi. Công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) dự án gặp nhiều khó khăn; khả năng thu hồi vốn chậm do chỉ có 30% diện tích bãi đỗ xe tập trung được phép khai thác thương mại.
- Về mặt lý luận: Hiện nay chưa có công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, trực tiếp về công tác quản lý nhà nước (QLNN) về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tĩnh đường bộ ở cả phạm vi quốc gia và phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Do đó, chưa có một khung lý luận rõ ràng nào về vấn đề này được đề cập trong các tài liệu, công trình nghiên cứu đã được công bố. - Về mặt thực tiễn: Công tác QLNN của chính quyền TP và các quận, huyện trên địa bàn thành phố còn cho thấy nhiều điểm hạn chế: Một là, Hà Nội còn thiếu QH giao thông tĩnh đầy đủ, bài bản. QH giao thông tĩnh hiện nay mới chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu đỗ xe.
Các dự án bãi đỗ xe ngầm, bãi đỗ xe cao tầng hiện nay của TP trong tình trạng ngưng trệ, rất ít các dự án được hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đây là nguyên nhân khiến nhà đầu tư khi vào lập dự án lại vướng QH khác, bất ổn hay thiếu đồng bộ với hạ tầng giao thông; có nơi vị trí lại thiếu phù hợp, hấp dẫn nhà đầu tư. Chính vì vậy, TP rất cần có một QH tổng thể, phù hợp, mang tầm chiến lược dài hạn đối với hạ tầng giao thông tĩnh. QH không chỉ là kim chỉ nam cho cả quá trình phát triển hạ tầng giao thông tĩnh mà còn là sự đảm bảo chắc chắn, ổn định về pháp lý cho các nhà đầu tư; Hai là, TP chưa có các CS để khai thác hiệu quả nguồn lực từ đất đai và tài sản kết cấu hạ tầng (KCHT); Ba là, vẫn để xảy ra tình trạng một số dự án có công tác xây dựng KH GPMB được triển khai chưa tốt, phương án triển khai GPMB chưa thật sự sát với thực tế; Bốn là, khả năng huy động 2 các nguồn vốn đầu tư cho phát triển KCHT giao thông tĩnh đường bộ, đặc biệt là những nguồn vốn ngoài NSNN còn rất hạn chế.
Thực tế hiện nay tại các đô thị lớn như Hà Nội hạ tầng giao thông tĩnh là một trong những lĩnh vực khó khăn kêu gọi đầu tư nhất. Bởi lẽ, vốn đầu vào quá lớn, doanh thu lại nhỏ giọt, thời gian thu hồi và quay vòng vốn quá chậm, không hấp dẫn được các tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, còn cả những rủi ro có thể gặp phải khi đầu tư vào bến, bãi đỗ xe; nay được làm, mai lại phải bỏ, khiến tổ chức, cá nhân bất an, không mặn mà; Năm là, một số dự án xây lắp, cải tạo, duy tu, bảo trì hệ thống KCHT giao thông tĩnh đường bộ có chất lượng hồ sơ thiết kế chưa cao, công tác quản lý chất lượng chưa được quan tâm đúng mức; Sáu là, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động phát triển KCHT giao thông tĩnh đường bộ vẫn còn lỏng lẻo, hình thức, hiệu quả thấp; v. Xuất phát từ những lý do đó, cộng với yêu cầu bức thiết của thực tiễn phải phát triển nhanh chóng hạ tầng giao thông tĩnh đường bộ đáp ứng nhu cầu phát triển của phương tiện giao thông và QH của TP Hà Nội, trong điều kiện nguồn lực đầu tư công hạn chế, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tĩnh đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đối tượng nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của mình.
Lý thuyết nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2. Lý thuyết nghiên cứu Luận án dựa trên nền tảng của những lý thuyết: (1) Lý thuyết QLNN theo ngành và (2) Lý thuyết QLNN theo lãnh thổ: - Lý thuyết QLNN theo ngành: QLNN theo ngành tức QLNN về những lĩnh vực hoạt động KTXH mang tính đặc thù. QLNN theo ngành là hoạt động quản lý của các cơ quan QLNN đối với các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế- kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước và xã hội. Hoạt động QLNN theo ngành được thực hiện với hình thức, quy mô khác nhau, có thể trên phạm vi toàn quốc, trên từng địa phương hay một vùng lãnh thổ trong nghiên cứu này là trên phạm vi 01 TP trực thuộc trung ương.
3 - Lý thuyết QLNN theo lãnh thổ: QLNN theo lãnh thổ sự tác động có mục đích và định hướng của các cơ quan Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động KTXH trên một lãnh thổ nhất định, bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội. thuộc các ngành khác nhau, không phân biệt thành phần xã hội và cấp quản lý, đóng và hoạt động trên địa bàn lãnh thổ đó. Lãnh thổ thường là một địa bàn có địa giới hành chính nhất định, được xem là một đơn vị hành chính- lãnh thổ (tỉnh, TP trực thuộc trung ương, huyện, quận. Lãnh thổ cũng có thể là một vùng lãnh thổ mang những đặc trưng nào đó về mặt KTXH, phân bố trên hai hay nhiều địa phương, không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Lãnh thổ trong nghiên cứu này là TP Hà Nội. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu Để thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra trong nghiên cứu của đề tài, đồng thời để có các giải pháp phù hợp với thực tiễn hiện nay trong công tác QLNN về phát triển KCHT giao thông tĩnh đường bộ Hà Nội, phương pháp tiếp cận của luận án như sau: - Thứ nhất, tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu QLNN về phát triển KCHT giao thông tĩnh đường bộ trên địa bàn TP Hà Nội được đặt trong tổng thể phát triển KCHT giao thông đô thị Hà Nội cả về CS tài chính, đất đai và QH trong điều kiện phát triển KTXH Hà Nội đến 2030 và tầm nhìn 2050. - Thứ hai, tiếp cận đa ngành. QLNN về phát triển KCHT giao thông tĩnh đường bộ trên địa bàn TP Hà Nội là lĩnh vực hết sức phong phú, rộng lớn, đa dạng với nhiều loại nguồn vốn, đầu tư khác nhau với những hình thức khác nhau nên cần có cách tiếp cận đa ngành.
- Thứ ba, tiếp cận lịch sử- cụ thể. Cách tiếp cận lịch sử- cụ thể được sử dụng khi xem xét QLNN về phát triển KCHT trên địa bàn TP Hà Nội gắn với bối cảnh, điều kiện cụ thể của Hà Nội trong từng thời kỳ phát triển tư nay đến 2030 và tầm nhìn 2050, để có thể rút ra những nhận định khoa học trung thực, chính xác, thuyết phục. - Thứ tư, tiếp cận hiệu quả và bền vững: QLNN về phát triển KCHT giao thông tĩnh đường bộ trên địa bàn TP Hà Nội, cần được xem xét gắn với hiệu quả kinh tế và xã hội của việc sử dụng vốn đó phù hợp với quan điểm phát triển bền 4 vững đô thị, đảm bảo sự phát triển hệ thống KCHT giao thông Hà Nội phù hợp với nhu cầu phát triển KTXH Hà Nội đến 2030 và tầm nhìn 2050. Phương pháp nghiên cứu 2.
Phương pháp luận Phương pháp luận để thực hiện luận án là phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử dựa trên nền tảng của nguyên lý khoa học quản lý kinh tế hiện đại.