MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong nhiều năm qua, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm xây dựng phát triển nông thôn, cải thiện, nâng cao mức sống của người nông dân, nhất là những vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm, dân làm là chính, có sự hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước”, Chính phủ đã dành nguồn vốn đáng kể cho đầu tư và phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn (GTNT). Phát triển cơ sở hạ tầng GTNT có vai trò vô cùng quan trọng đối với khu vực nông thôn, đồng thời cũng là yêu cầu cấp thiết và có tính chất sống còn đối với xã hội, để xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút ngắn khoảng cách phân hóa giàu nghèo và góp phần mang lại cho nông thôn một bộ mặt mới, tiềm năng để phát triển, thúc đẩy tiêu dùng, thúc đẩy đầu tư xây dựng ở khu vực dân cư, tạo điều kiện phát triển văn hóa xã hội và củng cố an ninh quốc phòng. Vì vậy muốn phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn trước hết phải phát triển mạng lưới giao thông nông thôn.
Trên thực tế, trong thời gian qua cho thấy quản lý hệ thống đường GTNT của nước ta tồn tại nhiều hạn chế như: Cơ cấu tổ chức quản lý hệ thống đường GTNT còn chồng chéo; việc quản lý hệ thống GTNT hiện nay chưa có một mô hình quản lý thống nhất nên ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước, quy hoạch và đầu tư xây dựng, phát triển GTNT; thiếu hệ thống số liệu; thiếu quan tâm và bố trí kinh phí quản lý, bảo trì; thiếu cán bộ chuyên môn quản lý hệ thống đường huyện trở xuống. Chất lượng thi công một số tuyến đường chưa đảm bảo về chất lượng và mỹ quan như: mui luyện chưa đảm bảo, độ bằng phẳng, khe co giãn chưa đứng quy cách, mặt đường bị rỗ, nền đường c 2 còn yếu, chưa hoàn thiện phần lề đường, một số tuyến chưa xây dựng đồng bộ với hệ thống thoát nước. Dẫn đến kết quả xây dựng đường GTNT chưa đồng đều, công tác quyết toán các tuyến đường và điều chỉnh hồ sơ địa chính cho các hộ hiến đất làm đường còn chậm. Do đó, thị trấn Đu, huyện Phú Lương, rất cần có cơ chế quản lý hệ thống đường GTNT thống nhất, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương, tạo điều kiện cho người dân tích cực tham gia vào xây dựng bộ mặt nông thôn mới xứng đáng với sự phát triển của tỉnh Thái Nguyên.
Tính đến nay, tuy đã có một số nghiên cứu tìm hiểu về nghiên cứu giải pháp quản lý hệ thống đường GTNT ở một số huyện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu và thực hiện tại thị trấn Đu - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên. Xuất phát từ ý tưởng trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp tăng cường quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn trên địa bàn thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” vừa có ý nghĩa về mặt lý luận – tổng kết các bài học kinh nghiệm về quản lý hệ thống đường GTNT, vừa có ý nghĩa về thực tiễn – trên cơ sở đánh giá được thực trạng quản lý hệ thống đường GTNT, và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống đường GTNT trên địa bàn thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn ở thị trấn Đu, huyện Phú Lương từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường quản lý hệ thống đường GTNT tại thị trấn Đu trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hệ thống đường GTNT. c 3 - Đánh giá thực trạng quản lý hệ thống đường GTNT trên địa bàn thị trấn Đu hiện nay. - Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hệ thống đường GTNT của thị trấn Đu. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý hệ thống đường GTNT thị trấn Đu trong những năm tới.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho học viên thực hành những kiến thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tiễn và giúp sinh viên nâng cao các kỹ năng và vận thành thạo các phương pháp đã học như: kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, phân tích xử lý số liệu, tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn… - Giúp cho sinh viên có cách nhìn tổng quan về tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung và địa bàn nghiên cứu nói riêng. Từ đó hệ thống hóa các lý luận và tình hình thực tế để tìm ra những giải pháp phát triển kinh tế, xã hội một cách hệ thống và bền vững cho địa phương. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá các giải pháp tăng cường quản lý hệ thống đường GTNT và phát triển của các hộ tại địa phương, phân tích những nguyên nhân quản lý hệ thống đường giao thông cũng như hiệu quả của một số chính sách của Đảng và Nhà nước tới sự phát triển kinh tế, xã hội địa phương. - Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp cho chính quyền và ban ngành đoàn thể trên địa bàn xã đưa ra được những biện pháp tăng cường quản lý hệ thống đường giao thông, và đưa ra các biện pháp bền vững và hiệu quả hơn.
c 4 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về hệ thống đường giao thông nông thôn Giao thông nông thôn: Giao thông nông thôn là sự di chuyển người, phương tiện tham gia giao thông và hàng hoá trên các tuyến đường địa phương ở cấp huyện và cấp xã. Giao thông nông thôn bao gồm kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn, phương tiện vận chuyển và con người.[3] Đường giao thông nông thôn: Đường giao thông nông thôn bao gồm đường trục xã, đường liên xã, đường trục thôn; đường trong ngõ xóm và các điểm dân cư tương đương; đường trục chính nội đồng.
Đường giao thông nông thôn chủ yếu là đường bộ, cầu cống, bến cảng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn. Có thể nói đường giao thông nói chung, đường giao thông nông thôn nói riêng là huyết mạch sống còn của lưu thông hàng hoá.[6] Đường giao thông nông thôn là đường thuộc khu vực nông thôn, được định nghĩa là loại đường giá tương đối thấp, lưu lượng xe ít, các đường nhánh, các đường phục vụ chủ yếu cho khu vực nông nghiệp nối với hệ thống đường chính, các trung tâm phát triển chủ yếu hoặc các trung tâm hành chính và nối tới các làng mạc các cụm dân cư dọc tuyến, các chợ, mạng lưới giao thông huyết mạch hoặc các tuyến cấp cao hơn. Các tiêu chí GTNT được quy định theo Luật Giao thông đường bộ.[11] - Theo Luật giao thông đường bộ, có quy định rõ tiêu chí xác định đường huyện và đường xã, cụ thể như sau: c 5 + Đường huyện: Là đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. + Đường liên xã : Là đường nối trung tâm hành chính của xã này với trung tâm hành chính sang xã khác.
Liên kết sự phát triển kinh tế - xã hội với nhau. + Đường xã: Là đường nối trung tâm hành chính của xã với các thôn, làng, ấp, bản và đơn vị tương đương hoặc đường nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã. - Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới:[8] + Đường trục xã: là đường nối trung tâm hành chính xã đến trung tâm các thôn + Đường ngõ, xóm: là đường nối giữa các hộ gia đình trong các cụm dân cư + Đường nội đồng: là đường chính nối từ khu dân cư đến khu sản xuất tập trung của thôn, xã. Giao thông nông thôn giúp hộ nông dân, các trang trại đưa nông sản đến bán cho cơ sở chế biến, đến các đô thị, đến các vùng dân cư trong cả nước, đảm bảo và nâng cao hàng hóa nông sản, nhất là các nông sản tươi sống phục vụ cho tiêu dùng cũng như cho khu công nghiệp chế biến.
Ngược lại, nó còn giúp cho thị trường nông thôn phát triển, vì nông thôn là thị trường rộng lớn để tiêu thụ các hàng hóa các ngành công nghiệp, sản xuất khác. Đối với vùng núi, vùng sâu, vùng xa giao thông còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn. Nếu cơ sở hạ tầng giao thông không tốt sẽ là chở ngại chính đối với sự phát triển khả năng chuyên môn hóa sản xuất một cách ổn định. Như vậy, giao thông nông thôn còn là giải pháp tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu c 6 kinh tế nông thôn (cả nông nghiệp và phi nông nghiệp) sang sản xuất hàng hóa.[8] Hệ thống đường giao thông nông thôn: Là một hệ thống các con đường bao quanh làng bản, thôn xóm.
Nó bao gồm các tuyến đường từ trung tâm xã, đến các trục đường quốc lộ, trung tâm hành chính huyện, đường liên xã, liên thôn, đường làng ngõ xóm và đường chính ra đồng ruộng xây dựng thành một hệ thống giao thông liên hoàn.[3] Hệ thống này nhằm đảm bảo cho các phương tiện cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại. Bao gồm hệ thống các tuyến đường nối liền từ trung tâm hành chính huyện đến các trục đường quốc lộ, trung tâm xã; hệ thống đường xã, đường thôn, đường làng ngõ xóm và đường trục chính ra đồng ruộng phục vụ sản xuất, được nối tiếp thành một hệ thống giao thông liên hoàn.2 Khái niệm về quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn Khái niệm quản lý: Là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường (tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị. Chủ thể quản lý thực hiện những quá trình quản lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.