Mở đầu - Chƣơng 1. Tổng quan về an toàn hàng hải - Chƣơng 2. Thực trạng an toàn hàng hải trên vùng biển Việt Nam - Chƣơng 3. Giải pháp nâng cao an toàn hàng hải ở vùng biển Việt Nam - Chƣơng 4.
Kết quả thử nghiệm, triển khai các giải pháp đề xuất Kết luận và kiến nghị. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN HÀNG HẢI 1. Khái niệm về an toàn hàng hải Theo quan điểm quốc tế, an toàn hàng hải trong thực tế cũng nhƣ về mặt lý thuyết là một thuật ngữ bao gồm tất cả mọi thứ từ hệ thống giao thông trên toàn thế giới đến sự an toàn của mỗi thủy thủ, liên quan đến việc bảo vệ tính mạng, tài sản và phòng ngừa ô nhiễm môi trƣờng thông qua các quy định, các biện pháp quản lý và phát triển công nghệ của tất cả các hình thức vận chuyển đƣờng thủy. An toàn hàng hải là một thuật ngữ rộng bao gồm tất cả mọi thứ từ việc đóng tàu đến duy trì mức độ chuyên nghiệp của thuyền viên.
Nó luôn luôn là trách nhiệm tổng thể của tất cả các công ty vận tải biển trong việc cung cấp điều kiện và nguồn lực tối ƣu để duy trì hoạt động của tàu an toàn trên biển. An toàn hàng hải là một trong những điều kiện tiên quyết cần thiết để điều hành một doanh nghiệp thành công. Do đó, công việc liên quan đến an toàn trên biển phải là một phần tự nhiên và tích hợp của các hoạt động hàng ngày của các công ty vận tải biển. Cơ sở pháp lý về an toàn hàng hải Công ƣớc quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển (SOLAS 74), chƣơng V/10 có đề cập đến chức năng và nhiệm vụ của tổ chức Hàng hải thế giới (IMO) trong việc phê duyệt hệ thống phân luồng hàng hải tại các quốc gia nhƣ là một tổ chức quốc tế duy nhất chịu trách nhiệm về vấn đề này.
Quy định 10 của chƣơng V của Công ƣớc quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển đƣợc sửa đổi, cung cấp thẩm quyền cho việc áp dụng các hệ thống phân luồng của IMO. Hệ thống phân luồng khi đƣợc IMO thông qua sẽ đƣợc khuyến cáo sử dụng, và có thể đƣợc thực hiện bắt buộc đối với tất cả các tàu, một số loại tàu, hoặc tàu chở hàng nhất định. Việc đề xuất để thiết lập một hệ thống phân luồng là trách nhiệm của các quốc gia thành viên công ƣớc và các Chính phủ liên quan. 6 Ủy ban An toàn Hàng hải (MSC) thuộc tổ chức Hàng hải thế giới đã ban hành thông tƣ 1060 (MSC/Circ.1060) về Các lƣu ý, hƣớng dẫn công tác chuẩn bị cho việc đề xuất hệ thống tuyến luồng hàng hải và hệ thống báo cáo tàu biển để trình cho tiểu ban an toàn hàng hải (Guidance note on the preparation of proposals on ship’s routeing systems and ship reporting systems for submission to the sub-committee on safety of navigation).
Theo Thông tƣ hƣớng dẫn này, hệ thống phân luồng tàu chạy và hệ thống báo cáo tàu có thể đƣợc xây dựng để nâng cao công tác đảm bảo toàn sinh mạng trên biển, an toàn và hiệu quả hàng hải và/hoặc tăng cƣờng bảo vệ môi trƣờng biển. Đề xuất một hệ thống hệ thống phân luồng hoặc một hệ thống báo cáo tàu nộp cho Tiểu ban An toàn Hàng hải (NAV) phải phù hợp với các quy tắc và thủ tục nhƣ khi trình các tài liệu cho IMO. Sau khi đề xuất đó đƣợc chấp thuận bởi NAV, NAV sẽ chuyển đề xuất này đến MSC để phê duyệt lần cuối cùng. Hệ thống phân luồng hàng hải hoặc hệ thống báo cáo tàu IMO mới hoặc sửa đổi sẽ không có hiệu lực sớm hơn sáu tháng sau khi thông qua.
Ở Việt Nam, ngày 02 tháng 02 năm 2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2018/NĐ-CP về việc công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam, Nghị định quy định nội dung quản lý nhà nƣớc về công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam gồm [19]: 1- Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật liên quan đến công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam. 2- Hợp tác quốc tế và tham gia các điều ước quốc tế liên quan đến công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam. 3- Tổ chức lập, công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam. 7 4- Tổ chức thực hiện quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến công bố, quản lý tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam.
5- Tổ chức thực hiện quản lý bảo vệ môi trường biển, quốc phòng, an ninh; kiểm tra, giám sát các hoạt động trên tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam. 6- Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam phục vụ cho việc tàu thuyền đi qua không gây hại nhằm bảo đảm an toàn hàng hải. Các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về tuyến hàng hải, phân luồng giao thông và hoạt động của tàu thuyền trong lãnh hải Việt Nam.
Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện quản lý nhà nước chuyên ngành về công bố, quản lý tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao. Phân luồng giao thông trong lãnh hải Việt Nam Theo Nghị định, tàu thuyền đi qua lãnh hải Việt Nam nhưng không đi vào nội thủy Việt Nam thực hiện hành trình theo tuyến hàng hải trong lãnh hải Việt Nam đã được công bố. Tàu thuyền vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý hoặc tàu quân sự và các loại tàu thuyền khác không vì mục đích thương mại đi qua lãnh hải và nội thủy Việt Nam để vào cảng biển Việt Nam phải hành trình đúng tuyến luồng và thực hiện thủ tục tàu thuyền theo quy định. 8 Tàu thuyền đi qua lãnh hải và nội thủy Việt Nam nhưng không đến cảng biển Việt Nam thì thuyền trưởng của tàu thuyền đó phải thông báo ngay cho Cảng vụ hàng hải khu vực biết về lý do, mục đích tàu thuyền vào nội thủy Việt Nam trong các trường hợp sau: 1-Cấp cứu thuyền viên, hành khách trên tàu; 2- Tránh, trú bão; 3- Thực hiện hoạt động tìm kiếm, cứu nạn; chuyển giao người, tài sản, tàu thuyền đã cứu được trên biển; 4- Khắc phục hậu quả sự cố, tai nạn hàng hải đối với tàu thuyền; 5- Các trường hợp cấp thiết khác theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu chung đối với tàu thuyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam Nghị định nêu rõ tất cả các loại tàu thuyền không phân biệt quốc tịch, trọng tải được phép đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam nhưng phải thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tuân thủ quy tắc phòng ngừa va chạm trên biển theo quy định của pháp luật. Tàu thuyền khi đi qua lãnh hải Việt Nam phải treo cờ quốc tịch; thực hiện hành trình liên tục, nhanh chóng và thực hiện đầy đủ các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 82); trừ các trường hợp bất khả kháng, tàu gặp sự cố hàng hải, bị tai nạn; vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hoặc tàu bay đang gặp nạn trên biển hoặc theo thỏa thuận riêng giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ. Khi đi trong lãnh hải Việt Nam, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài phải hoạt động ở trạng thái nổi trên mặt nước và phải treo cờ quốc tịch theo quy định. 9 Khi đi trong lãnh hải Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ, chất độc hại, nguy hiểm có các nghĩa vụ sau: a- Mang đầy đủ tài liệu hồ sơ kỹ thuật liên quan đến tàu thuyền và hàng hóa trên tàu, tài liệu về bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc; b- Sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam mọi tài liệu liên quan đến thông số kỹ thuật của tàu thuyền và hàng hóa chở trên tàu thuyền; c- Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đặc biệt theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; d- Tuân thủ quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt, kể cả cấm không được đi qua lãnh hải Việt Nam hoặc buộc phải rời ngay khỏi lãnh hải Việt Nam trong trường hợp có dấu hiệu hoặc có bằng chứng rõ ràng về khả năng gây rò rỉ chất độc hại hoặc gây ô nhiễm môi trường.
Bộ luật Quản lý an toàn (ISM code) là một chuẩn mực quốc tế về công tác quản lý tàu nhằm đảm bảo an toàn và ngăn ngừa ô nhiễm, có hiệu lực bắt buộc theo Chƣơng IX của Công ƣớc SOLAS 1974 từ ngày 1. Nguyên nhân của các tai nạn hàng hải luôn là mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng hàng hải quốc tế với mục tiêu ngăn ngừa hơn là khắc phục. Các kết quả điều tra tai nạn hàng hải đã cho thấy hơn 80% nguyên nhân là do lỗi trực tiếp hoặc gián tiếp của con ngƣời, trong đó phần lớn thuộc về lỗi của công tác quản lý, điều mà ít đƣợc đề cập nhất trong các văn bản pháp lý do Tổ chức hàng hải quốc tế IMO đã ban hành cho đến thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Cơ sở thực tiễn về an toàn hàng hải Với sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội thế giới, ngành vận tải biển không còn hạn hẹp trong một khu vực nữa mà đã lan rộng ra toàn cầu, khối lƣợng vận tải ngày càng tăng lên, tỷ trọng vận tải biển cũng tăng theo và hiện 10 đạt tới 90% khối lƣợng hàng hóa vận tải trên toàn thế giới.