Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lƣc xử lý tình huống có nguy cơ đâm va trong ca trực độc lập trên biển của SQTCBL Việt Nam. Khảo sát năng lực của SQTCBL Việt Nam trong xử lý tình huống có nguy cơ đâm va tàu trong ca trực độc lập trên biển. Mô hình năng lực xử lý tình huống có nguy cơ đâm va tàu trong ca trực độc lập trên biển của SQTCBL Việt Nam.
Xây dựng chƣơng trình hỗ trợ ra quyết định điều động tàu tránh va. 7 luan an CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC XỬ LÝ TÌNH HUỐNG CÓ NGUY CƠ ĐÂM VA TRONG CA TRỰC ĐỘC LẬP TRÊN BIỂN CỦA SQTCBL VIỆT NAM 1. Năng lực xử lý của SQTCBL 1.
Khái niệm năng lực xử lý của SQTCBL Năng lực bao gồm các kiến thức, kỹ năng và bí quyết áp dụng và làm chủ đƣợc trong một bối cảnh cụ thể. Năng lực đƣợc xác định thông qua các nghiên cứu về việc làm và vai trò công việc. Quá trình hình thành năng lực phải gắn với luyện tập, thực hành và trải nghiệm các công việc thuộc nghề nào đó và bảo đảm thực hiện có hiệu quả. Nó bao gồm cả khả năng chuyển tải kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thói quen làm việc vào các tình huống trong phạm vi của nghề.
Năng lực xử lý tình huống có nguy cơ đâm va của SQTCBL Việt Nam là chuỗi các quy trình xử lý trên buồng lái dựa trên luật COLREG 1972, năng lực cảnh giới, các kỹ năng sử dụng các trang thiết bị buồng lái, kỹ năng điều động tàu, kỹ năng xử lý các tình huống vƣợt quá năng lực đảm bảo thực hiện tránh va tàu an toàn và hiệu quả. Đâm va tàu thuyền trên biển xảy ra bởi nhiều yếu tố, theo thống kê có đến 80% nguyên nhân xảy ra đâm va là do hành động của SQTCBL. Bên cạnh đó, mức độ của các khó khăn hàng hải phụ thuộc vào môi trƣờng hàng hải. Vì vậy có thể nói điều kiện hàng hải là mối liên hệ giữa khó khăn trong hàng hải và khả năng chuyên môn của SQTCBL [17], [26].
Điều kiện của môi trƣờng hàng hải có thể kể đến nhƣ: Đặc tính điều động của con tàu; Đặc điểm vùng nƣớc hoạt động của con tàu; Điều kiện biển và thời tiết; 8 luan an Loại tàu thuyền và mật độ giao thông; Luật hành trình.1 chỉ ra xác suất của mức độ của khó khăn hàng hải. Giá trị đƣợc biểu diễn bởi đƣờng nét đứt “a” đại diện cho chỉ số khó khăn trung bình của vùng nƣớc hàng hải. Giá trị trung bình này sẽ thay đổi phụ thuộc vào các điều kiện nhƣ đặc tính điều động của con tàu, đặc điểm vùng nƣớc tàu hoạt động, điều kiện biển và thời tiết, loại tàu và mật độ giao thông,. Khi vùng nƣớc hàng hải đủ rộng, và mật độ giao thông thấp thì mức độ trung bình của khó khăn trong hàng hải đƣợc biểu diễn bởi đƣờng nét đứt “b”.
Điều kiện của môi trƣờng hàng hải không phải là hằng số. b a Xác suất của Điều kiện A mức độ hàng Điều kiện B hải E 'E Mức độ hàng hải Hình 1. Xác suất của mức độ của khó khăn hàng hải Ngoài những tác động của môi trƣờng hàng hải, yếu tố con ngƣời trong quá trình điều khiển cũng chịu ảnh hƣởng không nhỏ vào năng lực của ngƣời điều khiển: Bằng cấp chức danh của sĩ quan điều khiển tàu biển; Thời gian kinh nghiệm đi biển; Sự mệt mỏi trong trực ca; Sự căng thẳng khi trực ca. 9 luan an Hình1.2 chỉ ra xác suất của mức độ của năng lực xử lý của SQTCBL.
Giá trị đƣợc biểu diễn bởi đƣờng nét đứt “c” đại diện cho chỉ số năng lực xử lý trung bình của SQTCBL. Trong trƣờng hợp có chức danh cao cộng với lâu năm kinh nghiệm thì chỉ số năng lực xử lý trung bình sẽ cao hơn và giá trị đƣợc biểu diễn bởi đƣờng nét đứt “d”. Năng lực xử lý của SQTCBL thay đổi tùy thuộc vào nhận thức của não bộ và sự điều chỉnh của sĩ quan đi ca. Trục tung của hình 1.2 biểu thị xác xuất xuất hiện của mức độ của năng lực xử lý của SQTCBL, trục hoành biểu thị mức độ của năng lực xử lý của SQTCBL [26].
Xác c d suất của năng lực thuyền viên H 'H Mức độ năng lực của sĩ Hình 1. Xác suất năng lực của sĩ quan thuyền viên Năng lực của SQTCBL không đáp ứng đƣợc môi trƣờng hàng hải yêu cầu thì tai nạn đâm va xảy ra. Vì vậy, khi trực ca độc lập trên buồng lái, yêu cầu năng lực của SQTCBL luôn luôn đảm bảo vƣợt trên môi trƣờng hàng hải. Điều này là cơ sở để các Thuyền trƣởng khi quyết định cho các SQTCBL trực ca độc lập trên buồng lái.
Trong các tình huống có nguy cơ đâm va xảy ra, SQTCBL có năng lực chuyên môn thấp thƣờng gây ra các vụ đâm va, còn SQTCBL có năng lực chuyên môn cao hơn thì xử lý tình huống tốt hơn. Sự khó khăn của sự điều 10 luan an khiển con tàu đƣợc quyết định bởi không chỉ điều kiện của môi trƣờng hàng hải mà còn bởi năng lực của SQTCBL. Trái lại, việc điều khiển tàu trong khu vực mật độ tàu bè đông thì khó khăn hơn nơi biển rộng, tuy nhiên ngay trong khu vực biển rộng vẫn xảy ra các tai nạn đâm va. Môi trƣờng hàng hải cũng quyết định đến mức độ khó khăn đó.
Điều kiện xuất hiện tai nạn hàng hải liên quan trực tiếp tới tổ hợp giữa môi trƣờng hàng hải và năng lực của sĩ quan hàng hải. Tuy nhiên, trong trƣờng hợp môi trƣờng hàng hải bình thƣờng, năng lực của sĩ quan ở mức độ trung bình vẫn xảy ra các tai nạn hàng hải [26]. 450 Vùng nguy hiểm Mức năng lực đòi hỏi bởi môi trƣờng Hàng Hình 1. Năng lực của SQTCBL và mức đói hỏi năng lực bởi môi trường hàng hải.3 trên chỉ ra mối liên hệ giữa năng lực của SQTCBL yêu cầu bởi điều kiện môi trƣờng hàng hải để có thể đạt đƣợc tiêu chí hàng hải an toàn với năng lực của ngƣời sĩ quan điều khiển tàu có thể thực hiện.
Đƣờng đồ thị nghiêng 450 so với trục hoành chỉ ra sự cân bằng giữa năng lực của sĩ quan hàng hải và mức năng lực đòi hỏi bởi môi trƣờng hàng hải.3 chỉ ra đƣờng thẳng tạo với trục hoành một góc 450 là ranh giới giữa vùng điều động tránh va an toàn và điều động tàu tránh va nguy hiểm, điều động tàu tránh va an toàn nằm ở phía trên của đƣờng thẳng, phụ thuộc 11 luan an vào năng lực của ngƣời sĩ quan hàng hải và cách vận dụng những năng lực đó trong việc xử lý các tình huống gặp phải. Trong một tình huống mức độ điều kiện môi trƣờng hàng hải là cố định ở mức độ bình thƣờng, các sĩ quan hàng hải sẽ đƣa ra các ứng xử và hành động khác nhau phụ thuộc vào kỹ năng xử lý, năng lực của sĩ quan đó, có sĩ quan xử lý an toàn nằm phía trên của đồ thị nhƣng có sĩ quan xử lý tình huống nằm phía dƣới đƣờng đồ thị vùng nguy hiểm, chính điều này gây ra các tai nạn hàng hải [26].4 cho thấy, trong cả hai trƣờng hợp năng lực của sĩ quan hàng hải và mức độ đòi hỏi của môi trƣờng hàng hải là trung bình nhƣ điểm A, đảm bảo yếu tố an toàn hàng hải. Tuy nhiên nhƣ ta đã giải thích ở trên năng lực xử lý của sĩ quan hàng hải không phải là hằng số, những sĩ quan có năng lực xử lý dƣới mức năng lực xử lý trung bình điều kiện môi trƣờng hàng hải không thay đổi thì điểm an toàn D sẽ rơi vào vùng đỏ nguy hiểm phía dƣới của đƣờng đồ thị.4 nếu điều kiện môi trƣờng khó khăn hơn nhƣng năng lực xử lý của sĩ quan vẫn ở mức độ trung bình thì điểm an toàn B vẫn rơi vào vùng nguy hiểm, còn nếu năng lực xử lý của sĩ quan đƣợc tăng lên, thì điểm an toàn C sẽ nằm trong vùng xử lý an toàn. C Năng A B lực xử lý Thuyền D viên 450 E Mức độ đòi hỏi bởi môi trƣờng hàng hải Hình 1.
Sự dao động của an toàn hàng hải liên quan đến xác suất của năng lực của sĩ quan và mức độ đòi hỏi bởi môi trường hàng hải. 12 luan an Tuy nhiên năng lực xử lý của SQTCBL không phải là hằng số, mức độ xử lý của các sĩ quan là khác nhau nó phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố nhƣ năng lực cảnh giới, năng lực xác định vị trí tàu, năng lực sử dụng các trang thiết bị buồng lái, năng lực áp dụng quy tắc phòng ngừa đâm va tàu thuyền trên biển 1972 và các sửa đổi bổ sung của nó, năng lực điều động tàu tránh va,… 1. Tiêu chuẩn năng lực của SQTCBL theo Công ước STCW 78/2010 [35] Theo công ƣớc STCW78/2010, để đảm bảo dẫn tàu an toàn yêu cầu đặt ra đối với SQTCBL phải đáp ứng đƣợc các năng lực tối thiểu nhƣ sau: 1.1 Lập kế hoạch và thực hiện hành trình Lập kế hoạch chuyến đi là một việc làm hết sức quan trọng trƣớc khi tàu khởi hành, việc này phải đƣợc thảo luận kỹ lƣỡng giữa Thuyền trƣởng và các sỹ quan điều khiển tàu biển. Để chuẩn bị tốt kế hoạch cần lƣu ý nhƣ sau: Hàng hải thiên văn: Khả năng sử dụng các thiên thể để xác định vị trí tàu.
Hàng hải địa văn: Khả năng xác định vị trí tàu bằng cách sử dụng các mục tiêu bờ, các thiết bị trợ giúp hành hải bao gồm hải đăng, tiêu radar beacon và phao tiêu. Hàng hải suy tính, có tính đến ảnh hƣởng của gió, thủy triều, dòng chảy và tốc độ dự tính. Kiến thức và các khả năng sử dụng hải đồ, ấn phẩm hàng hải, chẳng hạn nhƣ hàng hải chỉ nam, bảng thủy triều, thông báo hàng hải, cảnh báo hàng hải vô tuyến, thông tin về xác định tuyến đƣờng. Các hệ thống điện tử dùng để định vị và dẫn đƣờng: Khả năng xác định vị trí tàu bằng cách sử dụng các thiết bị điện tử hàng hải hỗ trợ.
- Máy đo sâu: Khả năng vận hành thiết bị và áp dụng thông tin một cách chính xác. 13 luan an - La bàn từ và la bàn con quay: Kiến thức về nguyên tắc hoạt động của la bàn từ và la bàn con quay, khả năng xác định sai số của la bàn con quay và la bàn từ, sử dụng các phƣơng pháp thiên văn và địa văn.