CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC HÌNH THỨC CẦU GTNT VÙNG ĐBSCL 1.Tổng quan về vùng ĐBSCL 1.Đặc điểm tự nhiên 1.Vị trí địa lý Sông Mekong dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Miến Điện, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, với diện tích lưu vực 795.000 km2, trong đó vùng châu thổ sông Mekong 49. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là phần cuối cùng của châu thổ, bao gồm địa phận 13 tỉnh thành là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, TP. Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau, có tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79% diện tích toàn châu thổ và bằng 5% diện tích lưu vực sông Mekong. ĐBSCL được giới hạn bởi: phía Bắc là biên giôi Việt Nam.Campuchia; phía Tây là biển Tây; phía Đông giáp biển Đông; phía Đông Bắc là sông Vàm Cỏ Đông và thành phố Hồ Chí Minh.
Địa hình, địa mạo ĐBSCL là vùng đất đai màu mỡ, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Vì thế tuy hiện nay đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, mà sản lượng đã tăng nhanh, tốc độ bình quân hàng năm 4. Đây là một đồng bằng bồi tích, bằng phẳng và tương đối thấp, chỉ trừ một số núi sót lại ở Kiên Giang và An Giang có độ cao trên 100m, phần còn lại cao độ dưới 5 m, phân chia như sau : -Vùng đất phù sa cổ ven biên giới Việt Nam – Campuchia cao độ từ 2-5m. -Vùng gò cao tự nhiên ven sông Tiền, sông Hậu cao độ 1-3m.
-Vùng giồng cát ven biển có cao độ 1-5m. -Vùng còn lại có cao độ từ 0-1,2m. Do tác động của sông và biển, ĐBSCL chia ra nhiều dạng địa mạo khác nhau, như vùng đá gốc, vùng thềm phù sa cổ, vùng đồng bằng ngập lụt cửa sông, 4 vùng đồng bằng ven biển và vùng trũng đọng nước. Mỗi nơi mang những đặc điểm tự nhiên khác nhau rất đa dạng và phong phú.
Bản đồ địa hình Đồng bằng sông Cửu Long 1. Mạng lưới sông ngòi, kênh mương ĐBSCL có hệ thống sông rạch chằng chịt, được nối liền với nhau bằng những kênh ngang. Hệ thống sông rạch bao gồm các hệ thống sông chính như Cửu Long, Vàm Cỏ và hệ thống kênh mương theo hướng Bắc Nam. 5 Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc cùng với chế độ thủy văn phức tạp, phụ thuộc vào chế độ dòng chảy thượng nguồn, chế độ thủy triều biển Đông, biển Tây và mưa trên đồng bằng.
ĐBSCL có hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá phong phú, bao gồm hệ thống sông thiên nhiên và kênh đào. - Hệ thống sông rạch thiên nhiên: Các hệ thống sông rạch thiên nhiên ở ĐBSCL. ngoài sông Mekong với 2 nhánh chính là sông Tiền, sông Hậu, các cửa ra biển và sông nối Vàm Nao, còn có 2 hệ thống sông quốc tế khác là Vàm Cỏ (gồm Vàm Cỏ Đông.Vàm Cỏ Tây) và Giang Thành, và các hệ thống sông nội địa là Cái Lớn.Cái Bé, Mỹ Thanh, Gành Hào, Ông Đốc, Bảy Háp., cùng một số rạch nhỏ khác. - Hệ thống kênh đào: Hệ thống kênh đào ở ĐBSCL được phát triển chủ yếu trong vòng hơn 1 thế kỷ nay, mục đích là phát triển nông nghiệp và giao thông thủy.
Đến nay, hệ thống kênh đào đã được đan dày ở cả 3 cấp là kênh trục/kênh cấp 1, kênh cấp 2 và kênh cấp 3/nội đồng. Đặc điểm kinh tế. xã hội, hạ tầng giao thông 1. Kinh tế xã hội Dân số ĐBSCL hiện nay khoảng 17 triệu người, trong đó nông thôn chiếm khoảng 84,0%, thành thị chiếm 16,0%.
Mật độ bình quân là 400 người/km2. Phân bố dân cư cũng không đều, một số khu vực như Cần Đước, Cần Giuộc, Gò Công có mật độ khá cao với 500. 750 người/km2, trong khi ở các khu vực khó khăn ven biển như huyện Duyên Hải (Trà Vinh), Thới Bình, U Minh, Đầm Dơi, Ngọc Hiển (Cà Mau), Vĩnh Thuận, An Minh, Hòn Đất, Hà Tiên (Kiên Giang) chỉ có mật độ 100. 200 người/km2.
Theo dự báo phát triển dân số và chuyển dịch cơ cấu lao động trong quy hoạch tổng thể ĐBSCL sẽ giảm tốc độ tăng dân số hàng năm từ 0,04. 0,06%, theo đó tốc độ tăng dân số sẽ giảm từ mức 1,7. 1,75%/năm hiện nay xuống còn khoảng 1,45. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp.
6 Phần lớn nhân dân là người Kinh, ngoài ra có người Khơme và người Hoa. Các khu vực thuộc tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng có tỷ lệ người Khơme lên đến khoảng 20. Các tỉnh khác có tỷ lệ người Khơme trong khoảng 10. Người Hoa chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Về tôn giáo, một bộ phận người kinh và người Hoa theo đạo phật, một số ít theo đạo thiên chúa. Người Khơme chủ yếu theo đạo phật nhưng thờ cúng theo phong tục riêng. Sản xuất Lâm nghiệp, được quản lý chủ yếu qua các lâm ngư trường và các địa phương khoán trực tiếp cho dân quản lý. Những năm gần đây, thực hiện chủ trương giao đất giao rừng cho dân, số dân sống trong rừng và sản xuất, quản lý rừng ngày càng nhiều.
Ngoài ra, ở tỉnh Cà Mau, số dân vào sinh sống bất hợp pháp trong các khu rừng ngập mặn cũng rất nhiều, họ sống với nguồn lợi thu được bằng nuôi tôm và khai thác trái phép lâm sản. Qua tài liệu điều tra của Phân Viện Quy hoạch rừng II, hiện có khoảng 28.610 hộ thuộc các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, 435 hộ thuộc tỉnh Bạc Liêu, 24.693 hộ thuộc tỉnh Cà Mau đang sống bằng nghề rừng, với số nhân khẩu ước tính khoảng 150. Đời sống của nhân dân làm rừng còn khó khăn và chưa ổn định. Đa số các gia đình được giao đất, giao rừng còn thiếu vốn sản xuất, các nguồn lợi thu nhập hàng năm không đủ đảm bảo cuộc sống.
ĐBSCL được xem là vùng có các cơ sở y tế, giáo dục, văn hoá xã hội phát triển chậm hơn các vùng khác. Thực tế hiện nay mỗi huyện đều có bệnh viện, mỗi xã đều có trạm xá, tuy nhiên trang thiết bị y tế nghèo nàn và thiếu thuốc men, thiếu cán bộ y tế nên điều kiện chữa bệnh rất khó khăn. Về giáo dục, tất cả các huyện đều có trường cấp III, các xã đều có trường cấp I, cấp II nhưng cơ sở vật chất không đủ, phòng học thiếu, học cụ nghèo nàn, thiếu giáo viên nên chất lượng dạy và học còn kém. Hơn nữa, điều kiện đi lại khó khăn, phân bố dân cư không tập trung, mức sống của người dân thấp nên việc học hành bị 7 hạn chế, đa số chỉ học hết cấp I, cấp II, số lượng theo học đến cấp III rất ít.
Tỷ lệ các em ở tuổi đến trường bị thất học tương đối cao so với các vùng khác. Hiện trạng hạ tầng giao thông của ĐBSCL Giao thông thuỷ trong ĐBSCL vẫn là thế mạnh; khối lượng hàng hoá các loại này chiếm tới 90% tổng lượng hàng hóa được vận chuyển. Hai tuyến đường thủy chính là Tp.HCM đi Cà Mau và TpHCM đi Kiên Lương đảm nhiệm tới 70- 80% tổng hàng hoá vận chuyển bằng đường thủy. Giao thông đường bộ cũng có sự tăng trưởng nhanh, song so với các vùng miền khác vẫn còn lạc hậu hơn, còn nhiều cầu tạm, vẫn còn nhiều xã chưa có đường ô tố đến trung tâm xã, và hệ thống đường giao thông liên xã, liên ấp còn gặp rất nhiều khó khăn nhất là với những địa phương vùng sâu, xa và lại vô cùng khó khăn trong mùa ngập lũ.
Tổng quan về tình hình phát triển xây dựng cầu GTNT vùng ĐBSCL 1. Nhu cầu xây dựng cầu GTNT khu vực ĐBSCL Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn khu vực hiện có khoảng 300.000 cầu khỉ , trong đó việc xây mới khoảng 30.000 cầu thay thế cầu khỉ đang là đỏi hỏi cấp bách của đời sống nhân dân cũng như sự phát triển kinh tế -xã hội của khu vực nông thôn ĐBSCL [6].1: Số lượng cầu đã xây dựng vùng ĐBSCL Thực trạng Ghi chú Tỉnh Số Lượng Chiều dài (số lượng cầu tính đến) (chiếc) (m) Bạc Liêu 6,020 76,308 Tính đến 4/2010 Bến tre 2,715. Tính đến 6/2011 Cà Mau 2,550. Tính đến 2010 Đồng Tháp 11,387.
Tính đến 2009 Hậu Giang 2,141 41,600 Tính đến 9/2011 Kiên Giang. 10,758 Tính đến 2011 Long An 644 16,923 Tính đến 2011 8 1. Tổng quan về kết cấu cầu [12] Công trình cầu rất đa dạng ,có nhiều cách khác nhau để phân loại công trình cầu. Có thể phân loại theo vật liệu làm cầu, mục đích sử dụng, theo dạng kết cấu và chướng ngại vật mà cầu vượt qua, theo sơ đồ chịu lực.
Các dạng cầu đã và đang được áp dụng trên thế giới nói chung, khu vực ĐBSCL nói riêng được phân loại như sau: 1.Theo vật liệu làm cầu. Theo vật liệu xây dựng cầu được phân loại thành các loại cơ bản như: Cầu đá xây, cầu thép, cầu bê tông cốt thép, cầu bê tông cốt thép dự ứng lực, cầu gỗ. a- Cầu đá xây b-Cầu thép c- Cầu bê tông cốt thép d- Cầu gỗ Hình 1.2: Phân loại theo vật liệu 1.Theo sơ đồ chịu lực. Theo sơ đồ chịu lực có các loại như cầu dầm, cầu vòm, cầu khung, cầu treo dây võng, cầu dây văng.
9 - Cầu dầm: Nhịp cầu gồm các dầm bằng bê tông, bê tông cốt thép hoặc bằng thép. Bộ phận chịu lực là dầm, làm việc chịu uốn. Cầu dầm có thể là dầm đơn giản, cầu dầm hẫng, dầm liên tục nhiều nhịp. - Cầu vòm: Kết cấu chịu lực là vòm, vòm chịu nén và uốn là chủ yếu.
Cầu vòm có vòm không cốt( ngàm 2 đầu), vòm 1 chốt trên đỉnh vòm, vòm 2 chốt tại hai mố cầu. - Cầu khung: Kết cấu chịu lực dạng khung, lực tác dụng sẽ chia cho cả nhịp cầu và kết cấu mố phía dưới. a- Cầu dầm b-cầu vòm c- Cầu treo dây võng d-Cầu dây văng Hình 1.3: Phân loại theo sơ đồ chịu lực - Cầu treo dây võng: Thành phần chịu lực chủ yếu là dây cáp hoặc dây xích đỡ hệ mặt cầu. Cầu gồm một dây cáp chủ và hệ thống dây cáp treo hoặc thanh treo, các dây làm việc chịu kéo.
10 - Cầu dây văng: Cầu có dầm cứng tựa lên các gối cứng là các mố trụ, gối đàn hồi là các điểm treo dây văng. Dây văng một đầu neo vào tháp cầu, đầu kia neo vào các kết cấu chịu nhịp tạo thành các gối đàn hồi.Theo mục đích sử dụng. - Cầu ô tô: Cầu cho các phương tiện giao thông trên đường ô tô - Cầu đường sắt: Cầu chỉ cho phép tàu hỏa lưu thông a- Cầu ô tô b- Cầu đường sắt c- Cầu đường bộ Hình 1.