Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CUA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC TA Chức năng xã hội của Nhà nước là một vấn đề tương đối mới mẻ so với các nội dung khác trong lý luận về Nhà nước và pháp luật ở nước ta. Thực chất vấn dé này chi mới được đề cập tới trong những năm gần đây của thời kỳ đổi mới. Để có thể nghiên cứu chức năng xã hội của Nhà nước một cách toàn diện, chính xác, khách quan, cần đặt nó trong mối liên hệ với các khái niệm khác về Nhà nước, mà trước hết là khái niệm "chức năng của Nhà nước".1 Khái niệm chức năng của Nhà nước Chức năng của Nhà nước đã và đang được quan tâm nghiên cứu đưới nhiều giác độ (triết học, chính trị học, luật học.), theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện đất nước và trước những thay đổi lớn lao của đời sống quốc tế.
Trong luận án này, chức năng của Nhà nước được đề cập dưới giác độ khoa học pháp lý. Chức năng của Nhà nước là một khái niệm phức tạp, luôn gắn với những phạm trù như bản chất, nhiệm vụ, các hình thức và phương pháp hoạt động của Nhà nước. Khái niệm chức năng của Nhà nước có ý nghĩa nhất định, =ho.phép chúng ta phân định nó với các phạm trù khác của lý luận về Nhà nước và pháp luật, là một trong những cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu chức năng xã hội của Nhà nước. Theo cách hiểu truyền thống, phổ biến nhất từ trước đến nay, thể hiện trong nhiều giáo trình, nhiều sách ở Liên Xô trước đây và hiện đang lưu hành 13 ở Việt Nam, “chức năng cua Nhà nước” là những phương điện (những phương hướng, mặt, dạng, loại) hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước.
Như bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, Nhà nước tồn tại và phát triển thông qua những mối liên hệ biện chứng của nó, thể hiện trong các hoạt động của Nhà nước tác động vào thế giới tự nhiên, thế giới vật chất, vào các quan hệ xã hội và thế giới tinh thần của con người. Mỗi chức năng cụ thé của Nhà nước thể hiện sự thống nhất của nội dung, hình thức và biện pháp thực hiện quyền lực nhà nước trong một lĩnh vực hoạt động nhất định của Nhà nước, gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Nhưng chức năng của Nhà nước không chỉ tồn tại trong mối liên hệ với nhiệm vụ Nhà nước mà còn phản ánh bản chất và vai trò, vị trí của Nhà nước đối với xã hội - xuất phát điểm đồng thời là mục tiêu hoạt động của Nhà nước. Vì thế, quan điểm này tuy đã lý giải "chức nang của Nhà nước” tương xứng với hiện tượng "Nhà nước”, là phù hợp hơn cả so với một số quan điểm khác nhưng vẫn chưa thật đầy đủ.
Quan điểm thứ hai xuất phát từ bản chất nhà nước, cho rằng chức năng của Nhà nước được xem xét như những thuộc tính cơ bản bên trong của Nhà nước, phản ánh hai thuộc tính đặc trưng của bản chất nhà nước với tư cách là tổ chức thống trị giai cấp và tổ chức đại điện chính thức cho xã hội. Quan điểm này hợp lý ở chỗ đã khẳng định sự tồn tại khách quan của chức năng nhà nước với hai tính chất (là tính giai cấp và tính xã hội) và mối liên hệ giữa bản chất với chức năng của Nhà nước, tuy nhiên chưa phần ánh được nội dung, đối tượng của chức năng - những nét đặc thù để phân biệt chức năng nhà nước với các khái niệm khác. Trên căn cứ tương tự, xuất phát từ nguồn gốc, bản chất và vai trò của Nhà nước đối với xã hội, quan điểm thứ ba xác định chức năng nhà nước là sự thể hiện vai trò của Nhà nước đối với xã hội, là biểu hiện cụ thể năng lực của Nhà nước và kết luận rằng cần nhận thức khái niệm chức năng nhà nước trên 14 ba góc độ thống nhất hữu cơ: "Chức năng nhà nước là cái mà xã hội cần Nhà nước và Nhà nước cần phải làm; là cái mà Nhà nước có thể làm được; là cái Nhà nước được làm” [24, tr. Quan điểm này cho chúng ta một cách nhìn mới về chức nang nhà nước, thấy được tính giới han của chức năng nhà nước, tuy nhiên tác giả chưa đưa ra được định nghĩa.
Có quan điểm coi "chức năng của Nhà nước" không chỉ là những phương hướng hoạt động chủ yếu của Nhà nước mà còn là cơ chế tác động của Nhà nước lên quá trình xã hội, bởi khi thực hiện những chức năng nhất định trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, Nhà nước bằng các cuộc cải cách, bằng sự điều chính pháp luật, bằng các cách thức tổ chức và quản lý các quan hệ xã hội mà tác động lên trạng thái của các quá trình xã hội. Quan điểm khác cho rằng: chức năng nhà nước chính là những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thé hoặc đưa vào khái niệm "chức năng của Nhà nước” cả những phương pháp, cách thức Nhà nước thực hiện chức năng của mình trong thực tiễn - là các hình thức hoạt động của Nhà nước đối với môi trường xung quanh, đối với xã hội, với các quốc gia khác và như vậy đã có sự mở rộng phạm vi khái niệm, trộn lẫn giữa các mặt hoạt động của Nhà nước với nhiệm vụ của Nhà nước, với phương thức thực hiện chúng. Tuy có những khác biệt nhất định trong mỗi cách hiểu chức năng nhà nước đã đề cập ở trên nhưng nhìn chung chúng đều xuất phát trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của học thuyết Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất, vi trí, vai trò của Nhà nước trong đời sống xã hội, đặt hiện tượng Nhà nước trong quá trình vận động va phát triển của xã '4i theo các quy luật khách quan của nó. Trong bối cảnh hiện nay, theo chúng tôi, để có thể góp phần xác định một khái niệm day đủ về "chức năng của Nhà nước", cần làm sang tỏ một số luận điểm sau: 15 - Chức năng nhà nước gắn liền với điều kiện xuất hiện và bản chất của Nhà nước Nhà nước là một hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp, có lịch sử phát sinh, tồn tại và phát triển riêng của nó.
Xuất phát từ những phân tích về sự tồn tại, phát triển và tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy để tìm ra nguồn gốc Nhà nước, học thuyết Mác - Lênin khẳng định rằng: Nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong những giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội loài người với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Những điều kiện đó là "sự xuấf hiện và tồn tại của chế độ tư hữu về tit liệu san xuất và xã hội phân chia thành giai cấp, cuộc đấu tranh giữa các giai cấp dy trở nên "không thể điều hòa được" [74, tr. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện là nguyên nhân cơ bản đưa đến sự khác biệt, mâu thuẫn về địa vị và lợi ích kinh tế, dẫn đến ra sự khác biệt, mâu thuẫn về địa vị và lợi ích chính trị, xã hội giữa các thành viên trong xã hội, làm cho thiết chế xã hội cũ không còn đủ khả năng duy trì một xã hội với những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong trật tự như trước và khi đó Nhà nước ra đời. Sự ra đời của Nhà nước là một tất yếu lịch sử, nhằm đáp ứng nhu cầu được quản lý của chính xã hội và duy trì một trật tự xã hội theo ý chí và lợi ích của giai cấp nắm trong tay những tư liệu sản xuất chủ yếu.
Nhà nước là một lực lượng nảy sinh từ xã hội, "tựa hồ như đứng trên xã hội", "có nhiệm vụ làm diu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng trật tự" [15, tr. Quan điểm của học thuyết Mác - Lênin đã phủ định một cách khoa học các thuyết như thuyết thần học, thuyết gia trưởng, thuyết bạo lực, thuyết tâm lý, thuyết khế ước xã hội. của các học giả trong các chế độ xã hội trước đó giải thích về fguồn gốc Nhà nước. Trong xã hội hiện dai, do su tổn tại khách quan của Nhà nước và tính đúng đắn, khoa học của học thuyết Mác - Lênin nên các học giả tư sản đã có những thay đổi nhất định trong nhận thức về nguồn gốc Nhà nước.
Họ đã phải thừa nhận rằng Nhà nước bắt nguồn từ xã hội, "từ thời xa xưa nhất, con người họp lại với nhau thành các phường 16 hội lớn hon, bat đầu bằng hộ gia đình, rồi đến các nhóm có quan hệ huyết thống và rồi tiến đến các Nhà nước hiện đại" [62, tr. Như vậy, điều kiện xuất hiện Nhà nước quy định Nhà nước phải có những chức năng nhất định, mà nổi bật là chức năng chuyên chính giai cấp và chức năng xã hội. Chức năng nhà nước và bản chất nhà nước có mối liên hệ khách quan: Chức năng của Nhà nước được xác định xuất phát từ bản chất nhà nước và ngược lại, bản chất nhà nước được thể hiện thông qua các chức năng của Nhà nước - được cụ thể hóa và thể hiện trong nhiều mặt hoạt động của Nhà nước. Sinh ra và tồn tại trong xã hội có giai cấp, là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp và theo đúng nghĩa của nó là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác nên Nhà nước bao giờ cũng thể hiện ban chất giai cấp sâu sắc.
Lich sử xã hội loài người đã chứng minh: trong bất kỳ xã hội có giai cấp nào, Nhà nước bao giờ cũng thuộc về một giai cấp, một lực lượng chính trị nào đó trong xã hội, chính xác hơn, Nhà nước luôn thuộc vé giai cấp nắm trong tay những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội. Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp thống trị, là công cụ sắc bén nhất để duy trì sự thống trị giai cấp: đảm bảo sự thống trị về kinh tế, thực hiện quyền lực về chính trị và tác động về tư tưởng đối với quần chúng.