đặt vấn đề, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. 5 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1.
Tổng quan về vốn đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 1. Nguồn vốn đầu tƣ 1. Khái niệm nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn đầu tƣ của xã hội là nguồn đƣợc hình thành trên cơ sở huy động các nguồn lực trong nƣớc và ngoài nƣớc, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, luật pháp. Nguồn vốn trong nƣớc bao gồm: Nguồn vốn từ NSNN; nguồn vốn tín dụng (tín dụng Nhà nƣớc, tín dụng Ngân hàng); các nguồn vốn khác (vốn đầu tƣ của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cƣ).
Nguồn vốn ngoài nƣớc gồm có: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài; nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác. Phân loại nguồn vốn đầu tư Điều kiện cần cho hoạt động đầu tƣ là phải có vốn, đặc biệt trong điều kiện kinh tế hội nhập, nền kinh tế còn gặp khó khăn, vốn đầu tƣ đƣợc huy động bằng nhiều nguồn khác nhau và đƣợc phân loại nhƣ sau: a. Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc - Nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước: Luật Ngân sách Nhà nƣớc của Việt Nam đã đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: “Là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có th m quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. [15]1 Nguồn vốn đầu tƣ từ NSNN phần lớn đƣợc sử dụng để đầu tƣ cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; có vốn đầu tƣ lớn, có tác dụng chung cho nền kinh tế - xã hội; các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tƣ.
Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ. Nguồn vốn NSNN đƣợc hình thành từ tiết kiệm của NSNN, đó là khoản chênh lệch giữa thu và chi của NSNN. Thu của NSNN đƣợc thực hiện chủ yếu là từ thuế và một phần nhỏ là các khoản thu từ phí, lệ phí và thu khác. Chi của NSNN bao gồm: Chi cho đầu tƣ phát triển và chi thƣờng xuyên cho quản lý hành chính, quốc phòng - an ninh, 1 Trích dẫn Điều 4, Luật Ngân sách nhà nƣớc Luật số: 83/2015/QH13 6 sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, chi các sự nghiệp kinh tế.
Muốn tăng nguồn tích lũy của NSNN phải phấn đấu tăng thu và tiết kiệm chi. Vốn đầu tƣ phát triển qua kênh NSNN đƣợc thể hiện qua hai phần: Một phần vốn đầu tƣ xây dựng công trình tập trung của Nhà nƣớc, một phần từ nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế hàng năm. - Nguồn vốn tín dụng Nhà nước: Là hình thức vay nợ của Nhà nƣớc thông qua Kho bạc Nhà nƣớc, đƣợc thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành. Trong trƣờng hợp nhu cầu chi tiêu của ngân sách lớn nhƣng nguồn thu lại không thể đáp ứng đƣợc, để thỏa mãn nhu cầu này, Chính phủ thƣờng cân đối ngân sách bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ.
Ở nƣớc ta hiện nay, Trái phiếu Chính phủ có các hình thức sau đây: Tín phiếu, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tƣ… Đối với vốn đầu tƣ phát triển, hình thức tín dụng nhà nƣớc có thể tác động lên hai mặt: Chính phủ vay ngắn hạn tạo điều kiện cân đối ngân sách đảm bảo kế hoạch đầu tƣ phát triển kinh tế và phát hành trái phiếu để đầu tƣ cho một số dự án nào đó, nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tƣ phát triển quan trọng. - Nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế nhà nước: Hiện nay, ở các quốc gia đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nƣớc vì nhiều lý do khác nhau: Bảo đảm những ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, kinh doanh ở những lĩnh vực mà tƣ nhân không đủ sức, đủ vốn hoặc không muốn làm vì hiệu quả kinh tế thấp, nhất là ở những lĩnh vực nhƣ giao thông, thủy lợi, năng lƣợng, dịch vụ công cộng. Vốn đầu tƣ của các thành phần kinh tế nhà nƣớc đƣợc hình thành từ rất nhiều nguồn khác nhau: Là nguồn vốn do NSNN cấp cho các tập đoàn, công ty nhà nƣớc nắm 100% vốn hoặc cổ phần chi phối, tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có xu hƣớng giảm đáng kể cả về tỷ trọng và số lƣợng; nguồn vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu (đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc đã thực hiện cổ phần hóa); tiền khấu hao cơ bản của tài sản cố định, lợi nhuận tích lũy đƣợc phép để lại doanh nghiệp. - Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Các ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tài chính trung gian khác nhƣ công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm.
có vai trò rất quan trọng trong việc huy động vốn đầu tƣ phát triển. Các tổ chức này có ƣu điểm là có thể thỏa mãn đƣợc mọi nhu cầu về vốn của các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế, nếu những đối tƣợng vay vốn chấp hành đầy đủ những quy chế tín dụng. Sở dĩ các tổ chức này có 7 thể thu hút, huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khối lƣợng lớn, bởi vì các tổ chức này đã sử dụng dƣới nhiều hình thức huy động khác nhau rất phong phú và đa dạng. Mặt khác, thời hạn cho vay cũng rất linh hoạt (bao gồm vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn), tùy thuộc vào nhu cầu của ngƣời đi vay.
- Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh: Nguồn vốn đầu tƣ của khu vực dân doanh đƣợc hình thành từ nguồn tiết kiệm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tiết kiệm của dân cƣ. Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài Những nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta, dù có huy động tối đa nguồn vốn trong nƣớc cũng chƣa thể thỏa mãn nhu cầu cho đầu tƣ phát triển, nhất là trong điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp nhƣ hiện nay. Với tình hình thực tế ở nƣớc ta cho thấy, đầu tƣ nƣớc ngoài góp phần tích cực để giải quyết hai vấn đề nan giải nêu trên, đồng thời với xu hƣớng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế - xã hội, quan hệ giao thƣơng kinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã trở thành nhu cầu bức xúc của tất cả các nƣớc trên thế giới. Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam hiện nay gồm các nguồn chủ yếu sau: - Viện trợ phát triển chính thức (ODA): Là nguồn vốn do Chính phủ các nƣớc và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi.
Nguồn này thƣờng đƣợc tập trung vào Ngân sách của Chính phủ để đầu tƣ phát triển hoặc cho vay. Hình thức viện trợ phát triển chính thức ngoài vốn ngoại tệ thƣờng đƣợc đầu tƣ dƣới dạng máy móc, thiết bị, công nghệ, công trình hoặc chuyên gia. - Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI): Theo Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) đƣa ra định nghĩa “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Phƣơng diện quản lý là để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn các trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đƣợc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản đƣợc gọi là "công ty con" hay " chi nhánh công ty" - Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO): 8 Trƣớc đây, viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ chủ yếu là cho các nhu cầu nhân đạo nhƣ nhu cầu cung cấp thuốc men, lƣơng thực, quần áo cho nạn nhân bị thiên tai, dịch bệnh, dịch họa. Những năm gần đây tính chất của những khoản viện trợ này đã có sự thay đổi, chuyển dần từ viện trợ nhân đạo sang hỗ trợ cho việc đầu tƣ phát triển các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô vừa và nhỏ. Nếu chúng ta biết tranh thủ, khai thác các dự án của NGO thì có tác dụng tốt đối với các công trình có quy mô vừa và nhỏ ở nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp ở nông thôn phát triển.
Đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Đầu tƣ phát triển giao thông nông thôn (GTNT) là một phần của đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT), vì vậy trƣớc khi tìm hiểu hiểu về khái niệm của GTNT chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm về CSHT. Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội, là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp các dịch vụ sản xuất, đời sống của dân cƣ đƣợc bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Khi lực lƣợng sản xuất chƣa phát triển thì quá trình sản xuất chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động, nhƣng khi lực lƣợng sản xuất phát triển đến một trình độ nào đó thì cần phải có sự tham gia của CSHT mới tạo ra đƣợc sự phát triển tối ƣu nhất.