CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. TỔNG QUAN VỀ CHI ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGUỒN NSNN 1. Khái niệm, đặc điểm chi đầu tư XDCB 1. Khái niệm chi đầu tư XDCB Chi NSNN nói chung và chi đầu tư XDCB nói riêng có vai trò rất quan trọng trong ổn định, tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội.
Có thể kể ra đây một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề này: Để chứng minh cho vai trò của ñầu tư công trong tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa ñầu tư công, nợ nước ngoài, và tăng trưởng kinh tế các tác giả Benedict Clements, Rina Bhattacharya, and Toan Quoc Nguyen, đã có bài phân tích: “External Debt, Public Investment, and Growth in Low-Income Countries” - Nợ nước ngoài, đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở các nước có thu nhập thấp (2003). Trong nghiên cứu này các Tác giả đã tổng quan các lý thuyết liên quan ñến vấn đề nghiên cứu, đưa ra các mô hình tăng trưởng, mô hình đầu tư công từ đó định lượng và phân tích các tác động qua chứng minh thực tế từ các nước có thu nhập thấp. Bên cạnh vai trò kinh tế của đầu tư công, nó còn có vai trò xã hội. Một trong những vai trò xã hội của đầu tư công là giảm nghèo, bài viết của các tác giả Edward Anderson, Paolo de Renzio and Stephanie Levy: “The Role of Public Investment in Poverty Reduction: Theories, Evidence and Methods” - Vai trò của ñầu tư công trong giảm nghèo (2006), đã đưa ra các lý thuyết và bằng chứng về vai trò của đầu tư công trong giảm nghèo thông qua chứng minh hiệu quả của đầu tư công trong tăng trưởng, sản xuất, nghèo đói và cân bằng xã hội.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thế Sáu: “Quản lý tài chính dự án đầu tư bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”, 2006. Trong đề tài tác giả đã hệ thống lại toàn bộ những vấn đề lý luận chung về quản lý tài chính dự án đầu tư bằng vốn 4 NSNN, phần lý luận chung đã chỉ ra được những nhân tố có ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính dự án đầu tư bằng vốn NSNN, đánh giá thực trạng công tác này tại tỉnh Bắc Giang, thông qua đánh giá thực trạng tác giả đã đề xuất một số giải pháp để tăng cường quản lý tài chính dự án đầu tư bằng vốn NSNN trên địa bàn. Cùng vấn đề nghiên cứu với Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.” của tác giả Đỗ Hoàng Anh (2013). Luận văn đã hệ thống được các cơ sở lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB ở địa phương như: chi ngân sách nhà nước là gì, khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý và quy trình quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB ở địa phương và nêu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB ở địa phương.
Trong phần phân tích thực trạng, tác giả đã nên được những đặc điểm riêng về kinh tế xã hội của huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh trong việc thực hiện chi NSNN cho đầu tư XDCB ở huyện, phân tích quy trình và tình hình thực hiện quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB ở Huyện, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở cho các đề xuất giải pháp. Theo Luật đầu tư Việt Nam (2005): đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan, là việc bỏ vốn vào các hoạt động KT-XH để mong nhận được những lợi ích KT-XH lớn hơn trong tương lai. Đầu tư phát triển là loại hình đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn của toàn xã hội. Thông qua đầu tư phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế được tăng cường, đổi mới, hoàn thiện, hiện đại hóa; góp phần quan trọng hình thành và điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Theo bách khoa toàn thư Việt Nam: “Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn 5 được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính. Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ.
Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng. Mặc dù đầu tư làm tăng năng lực sản xuất (phía cung của nền kinh tế), song việc xuất tư bản để đầu tư lại được tính vào tổng cầu. Đầu tư tư nhân I và đầu tư công cộng G là các nhân tố quan trọng hình thành tổng cầu Y trong phương trình: Y = C + I + G + X - M (với C là tiêu dùng cá nhân, X là xuất khẩu và M là nhập khẩu)”.
Vậy, mặc dù các khái niệm trên có diễn giải khác nhau nhưng chúng cùng thống nhất một nghĩa: đầu tư là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động nhất định, hy vọng thu được những kết quả và đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các TSCĐ. Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra các TSCĐ đưa vào hoạt động trong lĩnh vực KT-XH, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau.
Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục TSCĐ cho nền kinh tế và năng lực sản xuất phục vụ hiện có. Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư XDCB, ngoài các chính sách khuyến khích thu hút đầu tư trong và ngoài nước để phát triển KT-XH, Đảng và Nhà nước ta luôn có sự ưu tiên nguồn vốn NSNN dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KT-XH. Đó chính là các khoản chi đầu tư XDCB của NSNN. Chi đầu tư XDCB cũng là một khoản chi chủ yếu trong chi đầu tư phát triển của NSNN, bao gồm các khoản chi để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn, các công trình của các doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo kế hoạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và 6 lãnh thổ… Như vậy có thể hiểu chi đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế được thể hiện qua quá trình phân phối và sử dụng một phầnvốn tiền tệ từ quỹ NSNN để tiến hành đầu tư tái sản xuất TSCĐ nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ cho nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm của chi đầu tư XDCB Thứ nhất, chi đầu tư XDCB là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn định. Chi đầu tư XDCB là nhu cầu tất yếu, là nền tảng về hạ tầng nhằm bảo đảm sự phát triển KT-XH của nhà nước. Chi đầu tư XDCB của NSNN nhằm tạo ra cơ sở vật chất- kỹ thuật, năng lực sản xuất cần thiết cho nền kinh tế. Chi đầu tư XDCB tạo ra môi trường thuận lợi nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư nội địa cũng như từ các nguồn vốn nước ngoài đầu tư theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Do đó, đường lối phát triển KT-XH và khả năng nguồn vốn của NSNN ảnh hưởng lớn đến quy mô và tỷ trọng chi ngân sách cho đầu tư XDCB. Trong thời gian gần đây, Việt Nam luôn ưu tiên chú trọng đầu tư XDCB nên chi đầu tư XDCB luôn là một khoản chi lớn của NSNN và có xu hướng tăng lên về tỷ trọng trong tổng chi NSNN hàng năm. Mặc dù luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSNN hàng năm nhưng cơ cấu chi đầu tư phát triển của NSNN lại không có tính ổn định giữa các năm cũng như giữa các thời kỳ phát triển KT-XH. Các nội dung chi thuộc chi đầu tư XDCB cho từng lĩnh vực KT-XH thường có sự thay đổi giữa các thời kỳ.
Ví dụ như sau một thời kỳ ưu tiên tập trung vào đầu tư vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu trung tâm hành chính, thì thời kỳ sau sẽ không cần ưu tiên đầu tư nhiều vào đó nữa do hạ tầng đã tương đối hoàn chỉnh và tập trung đầu tư vào lĩnh vực khác. Thứ hai, phạm vi và mức độ chi đầu tư XDCB của NSNN luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển KT-XH của Nhà nước trong từng thời kỳ. Chi đầu tư XDCB là nhằm để thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH của Nhà nước trong từng thời kỳ. Kế hoạch phát triển KT-XH là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng kế hoạch chi đầu tư phát triển từ NSNN.
Kế hoạch phát triển KT-XH của Nhà nước trong từng thời kỳ có ý nghĩa quyết định đến mức độ và thứ tự ưu tiên chi 7 đầu tư XDCB. Như vậy, chi đầu tư XDCB gắn liền với kế hoạch phát triển KT-XH nhằm đảm bảo phục vụ tốt nhất thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH. Thứ ba, chi đầu tư XDCB có các đặc điểm gắn liền với sản phẩm và quá trình đầu tư XDCB: Quá trình đầu tư XDCB thường được tạo ra trong một thời gian dài, đòi hỏi huy động một nguồn lực lớn (vật tư, lao động, nguồn vốn…) nên các khoản chi đầu tư XDCB có tính chất dài hạn.