Tổng quan luận án

Đề tài "Vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Phan Thị Hoài Vân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Tô Đức Hạnh, bảo vệ năm 2020 tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số: 9310102).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công nghiệp quốc phòng (CNQP) là bộ phận quan trọng của nền công nghiệp quốc gia, đóng vai trò nòng cốt trong nghiên cứu, phát triển, bảo dưỡng, sửa chữa lớn, cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) và vật tư phục vụ quốc phòng, an ninh; đồng thời tham gia phát triển kinh tế - xã hội theo hướng lưỡng dụng. Trong giai đoạn vừa qua, nguồn lực đầu tư từ ngân sách Nhà nước (NSNN) đã góp phần mở rộng năng lực CNQP cả về chiều rộng lẫn chiều sâu ở các phân ngành như đóng tàu quân sự, sản xuất vũ khí quân dụng, điện tử viễn thông.

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý và thực hiện đầu tư bằng vốn NSNN vào lĩnh vực CNQP vẫn bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư; hệ thống chính sách, pháp luật còn bất cập; đặc biệt khâu tổ chức thực hiện và công tác thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý hiện đại. Trước yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động địa chính trị, việc nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong sử dụng vốn NSNN cho CNQP trở thành vấn đề cấp bách. Đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống dưới góc độ kinh tế chính trị về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất hệ thống quan điểm và các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP.
  2. Khảo sát kinh nghiệm quốc tế về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP ở Việt Nam giai đoạn 2013–2018; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  4. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP ở Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Vì sao Nhà nước có vai trò đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP?
  2. Vai trò của Nhà nước được thể hiện như thế nào đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP?
  3. Nhân tố nào ảnh hưởng đến vai trò của Nhà nước đối với đầu tư trong lĩnh vực CNQP?
  4. Đánh giá thực trạng về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
  5. Quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP ở Việt Nam trong thời gian tới như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP ở Việt Nam. Trong đó, Nhà nước là chủ thể tác động, hoạt động đầu tư là khách thể chịu sự tác động; nghiên cứu tập trung vào hành vi can thiệp của Nhà nước chứ không khảo sát thuần túy bản thân hoạt động đầu tư.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận toàn diện dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị thông qua 4 nội dung can thiệp chủ yếu: (i) Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư; (ii) Xây dựng và ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật; (iii) Tổ chức thực hiện đầu tư; (iv) Kiểm tra, thanh tra đầu tư.
  • Phạm vi không gian: Lĩnh vực CNQP tại Việt Nam, tập trung vào chức năng hành pháp của các cơ quan quản lý nhà nước đối với việc sử dụng vốn NSNN, không nghiên cứu việc phân bổ ngân sách quốc phòng thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp (Quốc hội).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá dữ liệu thực trạng trong giai đoạn 2013–2018; đề xuất định hướng và giải pháp cho giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm nghiên cứu về quản lý đầu tư công

  • Công tác quy hoạch và lập kế hoạch đầu tư công: Nguyễn Anh Tuấn (2010) chỉ ra tình trạng kế hoạch đầu tư công thiếu thống nhất, phải điều chỉnh nhiều lần, nhiều dự án phê duyệt không khả thi do không cân đối đủ nguồn vốn. Nguyễn Đình Cung (2010), Nguyễn Ngọc Sơn và cộng sự (2012) phân tích hiện tượng lập quy hoạch theo nhu cầu chủ quan, chưa gắn với khả năng cân đối nguồn lực. Hoàng Thị Chinh Thon và cộng sự (2010) khuyến nghị quản lý cơ cấu phân bổ ngân sách và đổi mới quy hoạch đầu tư công gắn với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội - môi trường.
  • Hiệu quả đầu tư công: Nguyễn Minh Phong (2010), Lê Xuân Bá (2010), Nguyễn Trọng Thản (2012) phân tích các nguyên nhân gây thất thoát, dàn trải và hiệu quả đầu tư thấp. Trần Văn (2013) nhấn mạnh vai trò của phân kỳ bố trí vốn theo tiến độ dự án. Vũ Như Thăng (2010), Phạm Văn Hùng và cộng sự (2012), Hoàng Ngọc Âu (2013), Vũ Cương (2014) chỉ rõ những bất cập trong phân bổ vốn NSNN sai mục đích và chậm tiến độ.
  • Tổ chức thực hiện dự án: Nguyễn Minh Phong (2010), Nguyễn Ngọc Sơn và Lương Thanh Hà (2012) chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên (vận hành, bảo dưỡng), dẫn đến nhiều dự án hoàn thành nhưng thiếu kinh phí duy tu; đồng thời nhấn mạnh công tác kiểm tra, giám sát đầu tư công còn lỏng lẻo.
  • Nghiên cứu quốc tế: George A. Larbi (1999) tổng kết lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - NPM) với 4 trụ cột (minh bạch, giải trình, tiên liệu, tham gia) và khuyến nghị áp dụng có chọn lọc vào các lĩnh vực công đặc thù có liên quan đến an ninh quốc phòng.

Nhóm nghiên cứu về công nghiệp quốc phòng và đầu tư trong lĩnh vực quân sự

  • Nghiên cứu trong nước: Trần Trung Tín (1998) nghiên cứu lý luận và thực tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng trên các địa bàn chiến lược. Nguyễn Bảo Long (2001) phân tích cơ chế quản lý nhà nước về nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật của Bộ Quốc phòng. Đề tài của Bộ Tư lệnh Quân khu 3 (2003) và luận án của Phạm Tiến Luật (2004), Đỗ Huy Hằng (2010) tập trung vào phát triển tiềm lực hậu cần và xây dựng khu kinh tế - quốc phòng (KTQP). Đỗ Mạnh Hùng (2008), Vũ Trường Khá (2017) khảo sát hoạt động đầu tư vốn và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại các đoàn KTQP. Viện Chiến lược quân sự (2010) phân tích mô hình tổ hợp CNQP quốc tế và khả năng vận dụng tại Việt Nam. Mai Tiến Dũng (2011), Phạm Thành Tươi (2011), Dương Ngọc Long (2011) nghiên cứu quản lý nhà nước về quốc phòng tại các địa phương (Hà Nam, Cà Mau, Thái Nguyên). Phạm Trung Công (2011), Nguyễn Xuân Phúc (2012) phân tích cơ chế quản lý doanh nghiệp quân đội và doanh nghiệp KTQP. Trần Thái Bình (2012), Vũ Đăng Minh (2012) đề cập công tác dự báo chiến lược quân sự. Nguyễn Đức Lâm (2011, 2016, 2017) phân tích định hướng phát triển CNQP, cơ chế kết hợp sản xuất quốc phòng với kinh tế tại Tổng cục CNQP. Đặng Đồng Tiến (2012, 2014), Ngô Quyền (2014), Đặng Đồng Tiến và Lê Văn Hiền (2016) giới thiệu cải cách CNQP tại Nga, Malaysia, Singapore. Nguyễn Chí Vịnh (2016) phân tích đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế về quốc phòng.
  • Nghiên cứu quốc tế: Evan S. Medeiros, Roger Cliff, Keith Crane, James C. Mulvenon (2005, dự án RAND) phân tích chính sách đầu tư tập trung của Trung Quốc cho CNQP, cơ chế đấu thầu và chuyển giao công nghệ. Richard Hooke (2005) nghiên cứu xu hướng thương mại hóa, hiện đại hóa và kiểm soát chi phí trong CNQP thế kỷ 21. Alain Le Roy (2011, Liên Hợp Quốc) khuyến nghị các quốc gia minh bạch hóa ngân sách quốc phòng và nâng cao tính giải trình theo tiếp cận quản lý công mới.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Về lý luận: Chưa có công trình hệ thống hóa lý luận về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP theo khung lý thuyết quản lý (hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát) tích hợp các chuẩn mực quản lý công mới (minh bạch, giải trình, hiệu quả, quản lý theo kết quả đầu ra); chưa có nghiên cứu xây dựng mô hình định lượng đánh giá các nhân tố can thiệp của Nhà nước tác động đến đầu tư CNQP.
  2. Về thực tiễn: Do tính chất bảo mật thông tin trước đây, các nghiên cứu về đầu tư CNQP giai đoạn 2013–2018 chưa được phân tích thấu đáo theo các công cụ quản lý đầu tư trung hạn và chuẩn mực kiểm tra, thanh tra chuyên ngành.
  3. Về giải pháp: Thiếu hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và tiến trình hội nhập quốc tế về quốc phòng đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khung lý thuyết tiếp cận: Luận án sử dụng lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - NPM) và Hậu quản lý công mới (Post-NPM), kết hợp lý thuyết về quản lý đầu tư công trung hạn và quản lý theo kết quả đầu ra.
  • Bốn trụ cột của quản lý tài chính công:
    1. Tính minh bạch (Transparency): Công khai quy trình, tiêu chuẩn và kết quả phân bổ vốn ngân sách trong giới hạn bảo vệ bí mật quân sự.
    2. Tính giải trình (Accountability): Phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng chủ đầu tư đối với quyết định và kết quả sử dụng vốn.
    3. Tính tiên liệu (Predictability): Tính nhất quán và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật, kế hoạch tài chính - đầu tư trung hạn.
    4. Tính tham gia (Participation): Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp quốc phòng và doanh nghiệp dân sinh trong chuỗi cung ứng.
  • Khái niệm CNQP: Căn cứ Pháp lệnh CNQP năm 2008 và Luật Quốc phòng năm 2018, CNQP là bộ phận của công nghiệp quốc gia do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý, là ngành đặc thù thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa VKTBKT, vật tư kỹ thuật phục vụ quốc phòng - an ninh và tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
  • Mô hình đầu tư: Tác giả phân tích mô hình truyền thống (Nhà nước cung ứng tài chính và trực tiếp tổ chức sản xuất khép kín thông qua doanh nghiệp nhà nước) và các mô hình mở rộng có sự tham gia của doanh nghiệp công nghiệp động viên.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng.

Phương pháp Kỹ thuật / Công cụ thực hiện Mục đích áp dụng
Định tính Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hóa khoa học, phân tích - tổng hợp, lịch sử - logic, phương pháp chuyên gia. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích bối cảnh, xây dựng khung phân tích, đánh giá chính sách và tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế.
Định lượng Khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc (thang đo Likert 5 điểm), phân tích thống kê mô tả, kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), hồi quy tuyến tính bội OLS, kiểm định ANOVA trên phần mềm SPSS và Microsoft Excel. Đo lường mức độ tác động của các nội dung quản lý nhà nước đến hiệu quả đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP.

Nguồn dữ liệu và quy trình thu thập

  • Dữ liệu thứ cấp: Các văn kiện của Đảng, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư, báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết của Bộ Quốc phòng, Tổng cục CNQP, Tổng cục Kỹ thuật, số liệu chi tiêu quốc phòng từ các cơ sở dữ liệu và tạp chí chuyên ngành giai đoạn 2013–2018.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phiếu khảo sát gửi tới cán bộ quản lý, sĩ quan, kỹ sư và chuyên gia tại các cơ quan quản lý thuộc Bộ Quốc phòng, các đơn vị, nhà máy thuộc Tổng cục CNQP có sử dụng vốn NSNN. Mẫu khảo sát được chọn theo phương pháp thuận tiện phi xác suất, quy mô mẫu tuân thủ quy chuẩn nghiên cứu định lượng ($n \ge 8m + 50$ và $n \ge 50$ theo Janssens và cộng sự, 2008; Tabachnick & Fidell, 1996).

Mô hình nghiên cứu định lượng và các giả thuyết

Mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát được xác lập như sau:

$$\text{DAUTU} = \beta_0 + \beta_1 \text{KHCL} + \beta_2 \text{CS} + \beta_3 \text{TCTH} + \beta_4 \text{TTKT} + u_i$$

Trong đó:

  • $\text{DAUTU}$: Biến phụ thuộc, phản ánh kết quả/hiệu quả đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP.
  • $\text{KHCL}$: Biến độc lập, công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư.
  • $\text{CS}$: Biến độc lập, công tác xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách đầu tư.
  • $\text{TCTH}$: Biến độc lập, công tác tổ chức thực hiện đầu tư.
  • $\text{TTKT}$: Biến độc lập, công tác thanh tra, kiểm tra đầu tư.
  • $u_i$: Sai số ngẫu nhiên.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm:

  • H1: Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước có tác động tích cực (+) đến đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP.
  • H2: Chính sách đầu tư của Nhà nước có tác động tích cực (+) đến đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP.
  • H3: Công tác tổ chức thực hiện đầu tư của Nhà nước có tác động tích cực (+) đến đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP.
  • H4: Công tác thanh tra, kiểm tra của Nhà nước có tác động tích cực (+) đến đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của luận án

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu liên quan đến quản lý đầu tư công, phát triển CNQP và đầu tư ngân sách cho quốc phòng trong và ngoài nước. Tác giả phân tích các khoảng trống nghiên cứu về mặt lý luận quản lý công, thực tiễn phân bổ vốn và phương pháp luận định lượng. Trên cơ sở đó, chương này thiết lập khung phân tích gồm 4 nội dung can thiệp của Nhà nước (chiến lược/quy hoạch/kế hoạch, chính sách/pháp luật, tổ chức thực hiện, thanh tra/kiểm tra) chịu ảnh hưởng của các nhân tố: chủ trương phát triển CNQP, trình độ đội ngũ cán bộ, đặc thù lĩnh vực quân sự và tiến trình hội nhập quốc tế. Đồng thời, chương 1 trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu, bảng câu hỏi thang đo Likert, mô hình kinh tế lượng và hệ thống giả thuyết H1–H4.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về vai trò Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế của CNQP và đầu tư bằng vốn NSNN cho CNQP. Luận án chỉ ra các đặc trưng cơ bản: tính bảo mật cao, quy mô vốn lớn, chu kỳ hoàn vốn dài, sản phẩm có tính năng kỹ - chiến thuật đặc biệt đòi hỏi độ tin cậy và sát thương chính xác. Tác giả phân tích tính tất yếu khách quan của vai trò Nhà nước: Nhà nước vừa là người định hướng, cấp phát ngân sách, vừa là khách hàng tiêu thụ duy nhất các sản phẩm quốc phòng đặc chủng.

Chương này cũng phân tích kinh nghiệm quản lý đầu tư quốc phòng của Australia (quản lý mua sắm quốc phòng qua ADF), Trung Quốc (chiến lược tập trung nguồn lực NSNN cho Hải quân, Không quân, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và cơ chế đấu thầu quốc phòng giai đoạn 2013–2017) và Indonesia (quản lý chi tiêu NSNN cho quốc phòng giai đoạn 2013–2017). Qua đó, tác giả rút ra 4 bài học cho Việt Nam: (1) Hoàn thiện quy hoạch đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; (2) Đổi mới cơ chế tài chính và phân bổ vốn trung hạn; (3) Mở rộng cơ chế đặt hàng, đấu thầu minh bạch; (4) Tăng cường kiểm soát và đánh giá đầu ra của các dự án công nghệ cao.

Chương 3: Thực trạng vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng phát triển CNQP Việt Nam và sự can thiệp của Nhà nước giai đoạn 2013–2018 theo 4 nội dung chính:

  1. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư: Nhà nước đã ban hành các đề án phát triển CNQP gắn với Nghị quyết của Đảng; phân bổ vốn chi tiêu quốc phòng và chi đầu tư CNQP theo kế hoạch trung hạn. Tuy nhiên, quy hoạch phân bổ vốn ở một số khâu còn phân tán, việc dự báo nhu cầu trang bị chưa bám sát tốc độ phát triển công nghệ.
  2. Xây dựng và ban hành chính sách: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Pháp lệnh CNQP, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về đầu tư công, cơ chế tự chủ tài chính cho doanh nghiệp quốc phòng) từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý cho quản lý vốn NSNN. Dù vậy, một số quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật, cơ chế trích lập quỹ phát triển KHCN và chính sách cho sản phẩm lưỡng dụng còn thiếu đồng bộ.
  3. Tổ chức thực hiện đầu tư: Tiến độ giải ngân và triển khai các dự án đầu tư chiều sâu công nghệ, chuyển giao công nghệ đóng tàu, sản xuất vũ khí bộ binh có nhiều chuyển biến. Tuy nhiên, một số dự án còn kéo dài thời gian thi công, điều chỉnh tổng mức đầu tư, thủ tục phê duyệt thiết kế kỹ thuật - tổng dự toán (TKKT-TDT) qua nhiều cấp trung gian.
  4. Công tác thanh tra, kiểm tra: Hoạt động thanh tra quốc phòng được triển khai định kỳ và đột xuất, xử lý các sai phạm về quản lý tài chính, đấu thầu, quyết toán vốn. Dù vậy, công tác hậu kiểm và đánh giá hiệu quả sau đầu tư chưa được thực hiện thường xuyên.

Kết quả phân tích định lượng:

  • Phân tích độ tin cậy thang đo (Bảng 3.8): Hệ số Cronbach's Alpha của các biến $\text{KHCL}$, $\text{CS}$, $\text{TCTH}$, $\text{TTKT}$ và $\text{DAUTU}$ đều đạt yêu cầu (> 0.70), không có biến quan sát nào bị loại.
  • Phân tích EFA (Bảng 3.9, 3.10, 3.11): Chỉ số KMO đạt giá trị phù hợp, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$), tổng phương sai trích và ma trận xoay nhân tố hội tụ rõ nét thành 4 nhóm biến độc lập.
  • Kết quả hồi quy OLS (Bảng 3.12, 3.13) và phân tích phương sai ANOVA (Bảng 3.14): Mô hình có ý nghĩa thống kê cao ($F$-test có $p < 0.05$). Cả 4 biến độc lập đều có hệ số hồi quy mang dấu dương (+) và có ý nghĩa thống kê, khẳng định các giả thuyết H1, H2, H3, H4 đều được chấp nhận. Trong đó, biến Tổ chức thực hiện ($\text{TCTH}$) và Chiến lược, kế hoạch ($\text{KHCL}$) có tác động mạnh nhất đến kết quả đầu tư.

Chương 4: Giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng ở Việt Nam

Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển CNQP đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và đề xuất các nguyên tắc: tuân thủ nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng XHCN, phù hợp cam kết quốc tế, thực hiện đúng chức năng hành pháp và đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quân đội. Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp:

  1. Nhóm giải pháp về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách: Đổi mới phương pháp lập kế hoạch đầu tư công trung hạn; tập trung ngân sách cho các dự án công nghệ mũi nhọn, vũ khí công nghệ cao; hoàn thiện cơ chế tài chính đối với sản phẩm lưỡng dụng; xây dựng Luật Công nghiệp quốc phòng.
  2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện (giải pháp đột phá): Kiện toàn mô hình tổ chức ngành CNQP theo hướng phân định rõ chức năng đặt hàng - sản xuất - sử dụng; tinh giản thủ tục thẩm định dự án, rút ngắn thời gian phê duyệt TKKT-TDT; nâng cao năng lực chủ đầu tư và ban quản lý dự án.
  3. Nhóm giải pháp về thanh tra, kiểm tra: Đổi mới quy trình kiểm tra, kiểm toán chuyên đề đối với các dự án sử dụng vốn NSNN đặc biệt; tăng cường công tác hậu kiểm, đánh giá hiệu quả đầu ra của dự án sau khi bàn giao đưa vào sử dụng.
  4. Nhóm giải pháp hỗ trợ khác: Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế; huy động doanh nghiệp công nghiệp dân sinh tham gia chuỗi cung ứng CNQP.

Luận án kết thúc bằng việc đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với Quốc hội (hoàn thiện khung luật pháp), Chính phủ (cơ chế phân bổ vốn và chính sách ưu đãi) và Bộ Quốc phòng (chỉ đạo triển khai và giám sát thực hiện).


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Luận án tiếp cận vai trò của Nhà nước đối với đầu tư từ mối quan hệ hai mặt: yêu cầu khách quan của quá trình đầu tư trong lĩnh vực CNQP đặc thù và sự tác động tích cực, chủ động của Nhà nước nhằm nâng cao tiềm lực quốc phòng.
  • Đưa ra khái niệm mới: Vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP là một phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ kinh tế, trong đó Nhà nước là chủ thể tác động lên khách thể là hoạt động đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuất, sửa chữa VKTBKT và củng cố tiềm lực quốc phòng.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá định tính và mô hình định lượng xác định mối quan hệ đồng biến giữa các nội dung quản lý nhà nước (chiến lược, chính sách, tổ chức thực hiện, thanh kiểm tra) với kết quả đầu tư NSNN vào CNQP.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế có tính kế thừa và phù hợp với điều kiện thể chế của Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Luận án cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng phân bổ và sử dụng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP giai đoạn 2013–2018, chỉ rõ các điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện dự án và thanh tra chuyên ngành.
  • Đề xuất hệ thống quan điểm định hướng và 4 nhóm giải pháp khả thi đến năm 2025 và tầm nhìn 2030, trong đó khẳng định khâu tổ chức thực hiện đầu tư là khâu đột phá.
  • Đưa ra các kiến nghị phân định thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng cho Quốc hội, Chính phủ và Bộ Quốc phòng trong quản lý vốn đầu tư CNQP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do đặc thù bảo mật của lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia, việc tiếp cận các dữ liệu chi tiết về chi phí, định mức kỹ thuật của từng dự án chế tạo vũ khí đặc chủng còn giới hạn. Dữ liệu khảo sát sơ cấp sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện do điều kiện tiếp cận đối tượng điều tra trong lực lượng vũ trang. Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào chức năng hành pháp trong quản lý sử dụng vốn, chưa đi sâu nghiên cứu quy trình phân bổ ngân sách tại cơ quan lập pháp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế huy động các nguồn lực tài chính ngoài ngân sách (đối tác công - tư PPP) cho phát triển công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng; đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do và hội nhập quốc tế đối với chuỗi cung ứng vật tư kỹ thuật quốc phòng; phân tích định lượng hiệu quả kinh tế - xã hội tổng hợp sau khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác thực tế.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục CNQP trong việc xây dựng cơ chế quản lý tài chính quân sự và dự thảo Luật Công nghiệp quốc phòng.
    • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế, Quản lý công, Kinh tế quốc phòng tại các học viện, trường đại học.
    • Đơn vị thực thi: Lãnh đạo các viện nghiên cứu, nhà máy quốc phòng, doanh nghiệp quân đội trong công tác quản lý dự án đầu tư và quyết toán vốn ngân sách.
  • Nội dung đáng tham khảo: Khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết quản lý công mới với đặc thù kinh tế quân sự; bộ công cụ khảo sát và mô hình hồi quy định lượng tác động của chính sách; hệ thống kiến nghị về tổ chức thực hiện và kiểm soát đầu tư công trung hạn trong lĩnh vực an ninh quốc phòng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm về vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong CNQP được định nghĩa như thế nào?

Theo luận án, đây là phạm trù kinh tế phản ánh quan hệ kinh tế, trong đó Nhà nước là chủ thể tác động lên khách thể là hoạt động đầu tư trong lĩnh vực CNQP thông qua các chức năng hoạch định, ban hành chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

2. Mô hình nghiên cứu định lượng của luận án gồm những biến số nào?

Mô hình hồi quy đa biến gồm 1 biến phụ thuộc ($\text{DAUTU}$ - Đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP) và 4 biến độc lập: $\text{KHCL}$ (Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư), $\text{CS}$ (Chính sách đầu tư), $\text{TCTH}$ (Công tác tổ chức thực hiện đầu tư), và $\text{TTKT}$ (Công tác thanh tra, kiểm tra đầu tư).

3. Kinh nghiệm quốc tế của những quốc gia nào được khảo sát trong luận án?

Luận án khảo sát số liệu chi tiêu quốc phòng và cơ chế quản lý đầu tư giai đoạn 2013–2017 của Australia (mua sắm quân sự qua lực lượng ADF), Trung Quốc (chiến lược tập trung ngân sách cho Hải quân/Không quân và cơ chế đấu thầu chuyển giao công nghệ) và Indonesia (chi tiêu NSNN cho quốc phòng).

4. Bốn trụ cột của quản lý tài chính công mới được tác giả vận dụng là gì?

Tác giả áp dụng 4 trụ cột gồm: Tính minh bạch (Transparency), Tính giải trình (Accountability), Tính tiên liệu (Predictability), và Tính tham gia (Participation) vào quy trình quản lý các dự án đầu tư vốn ngân sách cho CNQP.

5. Vì sao công tác tổ chức thực hiện được xác định là giải pháp mang tính đột phá?

Kết quả phân tích thực trạng và kiểm định hồi quy cho thấy công tác tổ chức thực hiện ($\text{TCTH}$) có tác động mạnh nhất đến hiệu quả đầu tư nhưng lại là khâu tồn tại nhiều hạn chế nhất trong thực tế (thủ tục phê duyệt kéo dài, chậm tiến độ giải ngân, vướng mắc trong phân định trách nhiệm chủ đầu tư). Do đó, kiện toàn khâu này sẽ trực tiếp tháo gỡ điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phan Thị Hoài Vân đã giải quyết có hệ thống vấn đề vai trò của Nhà nước đối với đầu tư bằng vốn NSNN trong lĩnh vực CNQP tại Việt Nam dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với mô hình kiểm định định lượng OLS và khung lý thuyết Quản lý công mới, công trình đã làm rõ các nhân tố can thiệp của Nhà nước và chứng minh sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư trung hạn. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất có căn cứ khoa học, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện chính sách tài chính quân sự và phát triển nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030.