Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG KINH TẾ VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước trong phát triển kinh tế và kinh tế thị trường Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, nhà nước luôn có chức năng kinh tế. Nghĩa là, nhà nước ra đời và tồn tại không phải chỉ thuần túy để làm chính trị, không chỉ quản lý xã hội mà còn quản lý và phát triển kinh tế.
Nhà nước chính là đại diện cho giai cấp thống trị về kinh tế và chức năng kinh tế của nhà nước cũng chính là nhằm củng cố địa vị của giai cấp cầm quyền. Khẳng định chức năng kinh tế của nhà nước, phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Lênin cho rằng: không có chính trị đơn thuần và kinh tế đơn thuần mà chính trị và kinh tế luôn gắn bó với nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. "Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, lập luận một cách khác đi là quên mất điều thường thức của chủ nghĩa Mác" [20, tr. 349], "Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại" [23, tr.
Chính trị thực chất là quan hệ giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc. Trong đó trước hết và cơ bản là quan hệ về kinh tế. Trong chính trị, vấn đề quyền lực chính trị (biểu hiện tập trung ở quyền lực nhà nước) là mục tiêu và trực tiếp mà bất cứ giai cấp, nhóm xã hội nào cũng muốn nắm và chi phối. Vì nắm được quyền lực nhà nước là nắm được công cụ cơ bản, trọng yếu để giải quyết quan hệ lợi ích với các giai cấp khác theo hướng có lợi cho giai cấp mình.
8 Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: tất cả các cuộc đấu tranh giai cấp từ trước tới nay, xét đến cùng đều vì mục đích kinh tế - giải phóng kinh tế và được tiến hành trước hết vì lợi ích kinh tế. Và do đó một khi xã hội còn tồn tại giai cấp, còn tồn tại nhà nước thì tất cả những vấn đề chính trị và bất kỳ một thái độ nào cũng đều ảnh hưởng từ vấn đề kinh tế. Vì vậy Lênin khẳng định: Trong quá trình phát triển xã hội, kinh tế quyết định chính trị còn khi hoạch định chính sách thì chính trị phải chiếm hàng đầu, chiếm vị trí ưu tiên, phải đưa vào các chính sách, các quan hệ giai cấp các lực lượng kinh tế xã hội. "Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ được sự thống trị của mình và do đó cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình trong sản xuất" [21, tr.
Sự tác động của chính trị vào kinh tế thể hiện thông qua vai trò hoạt động của nhà nước - các thể chế và các chính sách của nhà nước. Sự tác động đó luôn diễn ra theo hai hướng: - Nếu sự tác động cùng chiều sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Nghĩa là, nhà nước trước hết bằng các thể chế chính trị tạo ra các quan hệ kinh tế phù hợp với sự phát triển của LLSX. Nhà nước nắm bắt các quy luật phát triển của nền kinh tế, tạo môi trường pháp lý và hoạch định các chính sách để phát huy các mặt tích cực của các xu hướng tích cực, đồng thời loại bỏ những mặt, những nhân tố tiêu cực cản trở sự tác động của các quy luật kinh tế.
- Sự tác động của nhà nước theo hướng ngược chiều sẽ dẫn tới kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩa là, nhà nước duy trì các quan hệ kinh tế lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của LLSX hoặc bảo vệ lợi ích của giai cấp phản động chống lại lợi ích của giai cấp đang lên, lợi ích của nhân dân lao động. Hoạt động bất chấp quy luật khách quan của kinh tế - xã hội. 9 Nhà nước với chức năng kinh tế, có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, vai trò đó được phát huy và thực hiện có hiệu quả hay không là phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ chính trị và bản chất giai cấp của từng nhà nước. Các nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản) đều bằng cách này hay cách khác kiểm soát các hoạt động kinh tế của xã hội, đặt ra những chính sách, luật lệ nhằm giữ vững vị trí thống trị của giai cấp cầm quyền. Ngay dưới CNTB, mặc dù các thể chế thị trường phát triển cao, nhà nước TBCN tham gia vào các quá trình kinh tế với rất nhiều hình thức (mà đỉnh cao là CNTB độc quyền nhà nước - sự liên minh giữa nhà nước và các tập đoàn tư bản) cũng đều nhằm củng cố vị trí thống trị của giai cấp tư sản - giai cấp cầm quyền. Khác với nhà nước của các giai cấp bóc lột, nhà nước XHCN là nhà nước kiểu mới - nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Nhà nước thực hiện trấn áp giai cấp bóc lột - giai cấp tư sản và bọn phản động, nhà nước dân chủ với quảng đại quần chúng. Nhà nước có nhiệm vụ kinh tế và vì lợi ích kinh tế của nhân dân lao động. Trong hai chức năng trấn áp và xây dựng của nhà nước XHCN, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng chức năng xây dựng là chủ yếu. Để làm được việc đó, giai cấp vô sản phải bằng quyền lực nhà nước của mình, tiến hành một cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trước hết, trọng tâm là phát triển kinh tế, cải tạo những cơ sở kinh tế cũ, xây dựng nền tảng kinh tế mới với các quan hệ kinh tế lành mạnh vì mục đích con người.
Với tư cách là chủ thể kinh tế, nhà nước XHCN sử dụng những yếu tố vật chất (đất đai, tiền vốn, lao động, tài nguyên) và tạo ra những quan hệ cần thiết để trực tiếp quản lý, sản xuất hoặc lưu thông, dịch vụ trên những ngành, vùng chủ chốt. Đồng thời, nhà nước là người đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, nắm trong tay 10 các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, luật pháp, tài chính, ngân hàng.) và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh phát triển kinh tế theo quan điểm mục tiêu đường lối phát triển kinh tế của giai cấp lãnh đạo - giai cấp công nhân mà đại biểu là Đảng cộng sản. Trong thời kỳ này, nhiệm vụ của nhà nước XHCN là phải làm gì, làm như thế nào để tạo ra năng suất lao động ngày càng cao để chiến thắng hoàn toàn CNTB. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định bước chuyển từ CNTB lên CNXH không phải một sớm một chiều mà là một thời kỳ quá độ lâu dài - thời kỳ quá độ lên CNXH (Mác gọi là những "cơn đau đẻ" kéo dài).
Đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là kết cấu kinh tế - xã hội mới còn tồn tại đan xen với kết cấu kinh tế - xã hội cũ. Nền kinh tế có nhiều thành phần tồn tại, tác động đan xen với nhau, trong đó thành phần kinh tế XHCN thậm chí chưa thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy việc nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu của thời kỳ quá độ. Chính Mác đã chỉ rõ: Không một hình thức kinh tế nào, biến đi trước khi nó còn phục vụ được cho các lực lượng sản xuất mà nó đã dọn khoảng đất trống cần thiết cho sự phát triển của các lực lượng sản xuất ấy; Ngược lại, không một hình thức kinh tế nào có thể ra đời trước khi xuất hiện đầy đủ các tiền đề vật chất cần thiết cho nó.
Vì kết cấu nền kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế nên hệ thống các quy luật kinh tế hoạt động trong thời kỳ này rất đa dạng. Bên cạnh những quy luật kinh tế XHCN mới hình thành nhưng chưa phát huy đầy đủ tác dụng của nó, vẫn còn những quy luật tương ứng với các thành phần kinh tế không XHCN còn hoạt động và phát huy tác dụng, tác động đến nền kinh tế quốc dân với mức độ khác nhau. Vì vậy trong quá trình quản lý nền kinh tế, nhà nước XHCN phải tính đến việc vận dụng toàn bộ hệ thống các quy luật đó sao cho phù hợp, có lợi cho CNXH. Một mặt tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để các 11 quy luật kinh tế XHCN phát huy ngày càng đầy đủ tác dụng của mình - là nhân tố chủ đạo; mặt khác, chủ động vận dụng các quy luật kinh tế khác, hướng theo quỹ đạo của CNXH.
Đây là việc khó khăn, phức tạp, dễ phạm sai lầm "tả" hoặc "hữu khuynh". Do đó đòi hỏi nhà nước XHCN phải có bản lĩnh, có khả năng tổ chức quản lý giỏi, biết tìm ra những hình thức, phương pháp mới phong phú, đa dạng để hướng các thành phần kinh tế đi theo quỹ đạo của CNXH. Từ thực tiễn nước Nga, khi chấm dứt nội chiến và chuyển sang thời bình, Lênin đã nghiêm khắc rút ra những bài học của chính sách "cộng sản thời chiến", phê phán những khuynh hướng tư tưởng chủ quan, nóng vội (muốn lập tức quốc hữu hóa, quốc doanh hóa, hạn chế không sử dụng các hình thức kinh tế quá độ đang còn tồn tại và còn tác dụng đối với việc phát triển LLSX), dẫn đến hậu quả nghiêm trọng: Kinh tế không phát triển và gây sự bất bình của nhân dân đối với chính quyền Xô viết. Theo Lênin - quá trình chuyển từ thời chiến sang thời bình "không những chỉ liên quan đến những cơ sở của công cuộc kiến thiết kinh tế mà còn liên quan đến các cơ sở của những mối quan hệ giữa các giai cấp còn tồn tại trong xã hội chúng ta".
"Vấn đề này là vấn đề cần giải quyết". Không thực hiện được bước chuyển ấy sẽ là thất bại của Đảng của giai cấp công nhân. Lênin cho rằng, điều kiện thời bình phải xem xét lại tất cả các quan điểm lý luận và thực tiễn sự phát triển kinh tế - xã hội nước Nga, thậm chí thay đổi căn bản cách tiếp cận với CNXH.