phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về ngƣời già Chƣơng 2. Về địa bàn nghiên cứu - Xã Hạ Bằng Chƣơng 3: Vai trò của ngƣời già trong gia đình Chƣơng 4: Vai trò của ngƣời già trong cộng đồng và phát huy vai trò của họ. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VỀ NGƢỜI GIÀ 1. QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH VỀ NGƢỜI GIÀ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.
Quan điểm và chính sách về ngƣời già trên thế giới Trên phạm vi thế giới, già hóa dân số không chỉ là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà là xu thế chung có tính toàn cầu. Trƣớc đây, hiện tƣợng già hoá dân số là mối quan tâm chính của các quốc gia phát triển và ngày nay quá trình này cũng đang trên đà tăng nhanh tại các quốc gia đang phát triển. Vì vậy Quỹ dân số Liên hiệp quốc cho rằng: Vấn đề già hóa dân số cần đƣợc coi trọng trong các vấn đề phát triển toàn cầu. Hiện tƣợng này đã làm thay đổi cơ cấu xã hội, và là một thách thức gay gắt đòi hỏi mỗi nƣớc phải có những chính sách thích hợp để giải quyết [76].
Liên Hợp Quốc cho rằng cần phải đƣa ra đƣợc những quan điểm chung về chính sách để giải quyết vấn đề ngƣời già, và sự cần thiết phải tổ chức Đại hội thế giới về tuổi già, không chỉ để giải quyết vấn đề kinh tế xã hội do sự gia tăng dân số của nhóm ngƣời lớn tuổi, mà còn là sự thừa nhận rằng ngƣời già là một nguồn nhân lực có giá trị trong các lĩnh vực kinh tế, và xã hội, nhất là trong việc truyền tải di sản văn hóa [20]. Năm 1982, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, Liên Hợp Quốc đã triệu tập Đại hội thế giới về tuổi già tại thành phố Viên, thủ đô nƣớc Cộng hòa Áo. Đại hội đã đƣa ra 6 mục tiêu lớn nhằm giải quyết các vấn đề về ngƣời cao tuổi [90]. Kể từ đó đến nay, Liên Hợp Quốc đã triệu tập nhiều đại hội, hội nghị thế giới, thông qua nhiều nghị quyết, chƣơng trình hành động thể hiện rõ các quan điểm chung của các quốc gia trên toàn thế giới về ngƣời cao tuổi, ví dụ nhƣ năm 1990, Đại hội đồng Liên hợp quốc quyết định lấy ngày 1/10 hằng năm là ngày Quốc tế ngƣời cao tuổi (Nghị quyết số 45/106), có hiệu lực từ năm 1991 [21].
Tiếp đó, vào năm 1991, Liên Hợp Quốc đã thông qua “Những nguyên tắc đạo lý của Liên Hợp Quốc đối với ngƣời cao tuổi” (Nghị quyết số 46/91) bao gồm 18 nguyên tắc nhằm bảo đảm các quyền của ngƣời cao tuổi, đƣợc nhóm lại thành 5 đặc điểm liên quan đến chất lƣợng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống nhƣ: sự độc lập, sự tham gia, chăm sóc, tự thực hiện và nhân phẩm của ngƣời cao tuổi [78, tr. Năm 1992, Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết số 47/5 đƣa những mục tiêu toàn cầu về NCT từ 1992 - 2001. Năm 1999 đƣợc gọi là năm Quốc tế về ngƣời cao tuổi với khẩu hiệu “Một xã hội cho mọi lứa tuổi” [23, 24]. Năm 2002, Hội nghị thế giới lần thứ II về NCT đƣợc tổ chức tại Madrid thủ đô Tây Ban Nha.
Hội nghị đã thông qua hai văn bản quan trọng về ngƣời cao tuổi toàn thế giới, đó là Tuyên bố chính trị Madrid và Chương trình hành động Quốc tế về người cao tuổi. Các văn bản này thể hiện quan điểm và cam kết hành động ở cấp quốc tế và quốc gia về ngƣời cao tuổi để đáp lại các cơ hội và thách thức của hiện tƣợng già hóa dân số trong thế kỷ 21 và xúc tiến một xã hội cho mọi lứa tuổi. Tuyên bố chính trị Madrid gồm có 19 điều, thể hiện những quan điểm quốc tế hết sức cơ bản về ngƣời cao tuổi. Vai trò của ngƣời cao tuổi đã đƣợc ghi rõ tại Điều 2 và 6 “Các kinh nghiệm và các nguồn lực của NCT là một tài sản vô giá cho sự phát triển của các xã hội”.
Và tại Điều 1, 6, 8, 10, 12 cũng ghi rõ: “Các quốc gia cần phải xúc tiến phát triển một xã hội cho mọi lứa tuổi, mở rộng các cơ hội và môi trường hỗ trợ cho NCT, lồng ghép có hiệu quả các vấn đề NCT trong các chiến lược, chính sách và hành động về kinh tế, xã hội để họ có thể phát huy được các kỹ năng, kinh nghiệm và trí tuệ, tham gia đầy đủ và tích cực vào đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị” [32, 103, 104]. Chƣơng trình hành động quốc tế về ngƣời cao tuổi (2002) đã đƣợc thông qua, dựa trên bối cảnh xu hƣớng già hoá dân số ở nhiều quốc gia đang ngày càng tăng lên. Sự thay đổi về nhân khẩu đang là một thách thức lớn đối với các quốc gia, nhất là ở các nƣớc đang phát triển, nơi sẽ đồng thời gặp phải hai thách thức: phát triển và già hóa dân số. Chính vì vậy, trong Chƣơng trình hành động quốc tế về ngƣời cao tuổi năm 2002, Liên hiệp quốc đã kêu gọi các quốc gia có sự thay đổi về thái độ, về chính sách, tập quán ở mọi cấp và trong tất cả mọi lĩnh vực, nhấn mạnh việc phát huy những tiềm năng to lớn của ngƣời cao tuổi trong thế kỷ 21.
Tuổi càng cao càng cần đƣợc sống trong an ninh và nhân phẩm, và có quyền tham gia vào nhiều hoạt động của gia đình và cộng đồng. Một trong những chủ đề của Chƣơng trình này đó 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là cần trao quyền cho ngƣời cao tuổi để họ có thể hội nhập hoàn toàn và có hiệu quả vào đời sống kinh tế, chính trị và xã hội bằng nhiều biện pháp trong đó có việc tạo thu nhập và những công việc tình nguyện. Đối với các nƣớc đang phát triển, già hóa dân số tăng nhanh trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế và xã hội còn thấp là một thách thức lớn, vì ngƣời già đòi hỏi chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hƣu trí, trợ cấp… “Vấn đề già hóa dân số cần được coi trọng trong các vấn đề phát triển toàn cầu. Hiện nay, người cao tuổi là nhóm dân số tăng nhanh nhất nhưng cũng là nhóm dân số nghèo nhất.
Hiện cứ 10 người thì mới có 1 người từ 60 tuổi trở lên, nhưng vào năm 2050 thì cứ 5 người đã có 1 NCT. Chúng ta cần đáp ứng được nhu cầu của NCT hiện nay và lập kế hoạch để đáp ứng nhu cầu của họ trong tương lai. Phần lớn trong số khoảng 400 triệu người từ 60 tuổi trở lên đang sống ở các nước đang phát triển là phụ nữ và con số này sẽ tăng rất nhanh trong thập kỷ tới. Trong bối cảnh ngƣời già trở thành vấn đề kinh tế - xã hội cấp thiết mang tính toàn cầu, Liên hiệp quốc kêu gọi các quốc gia hƣớng trọng tâm vào việc phát huy vai trò của NCT trong chính sách và chƣơng trình hành động quốc tế và quốc gia về ngƣời già, mà mục tiêu cuối cùng là nhằm phát huy tiềm năng to lớn của NCT và đảm bảo quyền tiếp tục tham gia vào các hoạt động xã hội với tƣ cách là những công dân.
Với cách tiếp cận theo hƣớng này, các quốc gia cần nhận thức đƣợc khả năng đóng góp của ngƣời cao tuổi, coi họ nhƣ là một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nƣớc. Và trên hết chính sách phát huy vai trò của NCT cần quan tâm đến việc tạo điều kiện để ngƣời già làm tốt những công việc thƣờng ngày tại gia đình và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu mƣu sinh chính đáng, đƣa họ vào các chƣơng trình và chiến lƣợc giảm nghèo để họ có thể tiếp cận với các chƣơng trình tín dụng vay vốn và các hoạt động tạo thu nhập khác. 6 Phát biểu của Bà Thoraya Obaid - Nguyên Giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên hợp quốc - tại Hội nghị quốc tế lần thứ hai về Già hóa dân số tại Madrid năm 2002 [76, tr. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quan điểm và chính sách về ngƣời già ở Việt Nam Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận rất nhiều sự kiện về vai trò và đóng góp của ngƣời già trong công cuộc dựng nƣớc, giữ nƣớc với sự kiện nổi bật là Hội nghị Diên Hồng thời Trần7. Sách Đại Việt Sử ký toàn thư có ghi lại rằng: “Thượng hoàng (Thánh Tông) triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng (Thăng Long) ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão đều nói „xin đánh‟, muôn người cùng hô một tiếng”, chính từ sự kiện này mà sử sách xác nhận vai trò to lớn của bậc phụ lão trong đời sống chính trị - xã hội của đất nƣớc [72, tr. Trải qua các triều đại, Nhà nƣớc phong kiến Việt Nam đã có những chính sách ƣu đãi về kinh tế, xã hội cho ngƣời già.
Trong cộng đồng làng xã cũng có những quy định trong lệ làng, hƣơng ƣớc thể hiện sự ƣu đãi, sự tôn vinh và kính trọng ngƣời già [60]. Khi bàn về chính sách của “nƣớc - làng” trong lịch sử đối với ngƣời cao tuổi, GS Văn Tạo (1997) cho rằng từ xa xƣa dân gian đã có câu “Triều đình trọng tƣớc, làng nƣớc trọng xỉ”, và đối với xã hội nông nghiệp nhƣ Việt Nam thì ruộng đất là quan trọng bậc nhất. Nên từ Triều Lý, Trần đến triều Lê,. việc quân cấp công điền vẫn dành một phần đáng kể cho ngƣời già.
Ngƣời già đến 60 tuổi đƣợc miễn mọi nghĩa vụ thì không đƣợc “ăn ruộng” nhƣ trƣớc, nhƣng lại đƣợc cấp công điền theo thể lệ8, đƣợc cấp ngang với quân nhân, nha lại đƣơng chức. Đó là luật lệ của triều đình nhƣng đối với các làng xã thì mỗi nơi vận dụng có khác nhau ít nhiều, ví dụ nhƣ ở xã Thanh Quả, mỗi lão đến tuổi 80 đƣợc làng biếu 2 sào ruộng. Hoặc ở thôn Thọ Lão (xã Hoàng Tây, Kim Bảng, Hà Nam) trƣớc cách mạng tháng 8 vẫn có lệ ngƣời đến 53 tuổi đã lên lão, trả ruộng công cho làng, miễn mọi đóng góp, đƣợc cấp dƣỡng lão điền và không phải chịu thuế, các cụ từ 53-70 tuổi đƣợc cấp 2 sào, từ 80 tuổi đƣợc 4 sào và 90 tuổi đƣợc cấp 1 mẫu [96, tr.