Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Trong chương này, học viên trình bày khái quát chung về các khái niệm giới và vai trò của giới cùng với các lý thuyết về giới liên quan, tìm hiểu về thiết chế gia đình mẫu hệ. Đây là những cơ sở lý luận được sử dụng trong luận văn. Sau khi tìm hiểu những lý luận chung nhất, học viên tiến hành tìm hiểu về những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội chi phối đến việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Minangkabau ở Indonesia, đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu các chương sau.
Chương 2: Vai trò của người đàn ông Minangkabau trong hôn nhân và gia đình. Chương này sẽ tập trung làm rõ vai trò người đàn ông Minangkabau trong đời sống hôn nhân và gia đình thông qua các vai trò mà họ đảm nhiệm như chú rể, người cậu và người cha trong hôn nhân; người con trai, người chồng và người cha trong gia đình. Đồng thời, chương này cũng sẽ đánh giá thực trạng sự biến đổi vai trò của người đàn ông ở khía cạnh hôn nhân gia đình. Chương 3: Vai trò của người đàn ông Minangkabau trong dòng họ và cộng đồng.
Chương này sẽ tìm hiểu về địa vị của người đàn ông Minangkabau trong dòng họ thông qua chức trách là người cậu và việc quản lý xã hội, sinh hoạt cộng đồng trong vị trí penghulu cùng với sự biến đổi vai trò ấy trong giai đoạn hiện nay. 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Giới và vai trò giới 1. Giới Khi đề cập đến các vấn đề về giới, chúng ta cần phân biệt khái niệm giới tính (sex) và giới (gender) dựa trên các đặc trưng cơ bản.
Theo Điều 5 của Luật Bình đẳng giới 2006, khái niệm “giới tính” và “giới” được hiểu như sau: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ; Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”. Phân tích cụ thể hơn, giới tính (sex) là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi (trừ trường hợp có sự can thiệp của y học) (Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mĩ Lộc, 2000). Ví dụ, phụ nữ có bộ phận sinh dục nữ và có thể mang bầu, sinh con và cho bú bằng chính bầu sữa của mình, còn nam giới có bộ phận sinh dục nam và có thể sản xuất ra tinh trùng. “Giới là một thuật ngữ xã hội học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích” (Lê Thị Quý, 2010, tr.
Theo Hoàng Bá Thịnh (2008), “khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả trong mối quan hệ giữa nam và nữ. Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới. Những quy định/mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn luôn biến đổi qua các giai đoạn lịch sử và có sự khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội” (tr. Khác với giới tính, giới (gender) không mang tính bẩm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành.
Nói cách khác, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy dỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội, là vị trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa 14 nhất định. Ví dụ: phụ nữ chăm sóc con cái, làm nội trợ, nam giới xây nhà, trụ cột kinh tế, và v. Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bẩm sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng dạy dỗ để làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới. Giới mang tính đa dạng và khác nhau giữa các nền văn hoá.
Trong các nền văn hoá có những giá trị, chuẩn mực khác nhau. Vì thế, các đặc trưng xã hội của phụ nữ và nam giới ở những nền văn hoá khác nhau có thể khác nhau. Như vậy, khi nghiên cứu về giới, cụ thể là “người đàn ông” cần nghiên cứu đối tượng trong mối tương quan với “người phụ nữ”, đồng thời đặt trong bối cảnh văn hóa - xã hội nhất định, ở đây là văn hóa tộc người Minangkabau ở Tây Sumatra, Indonesia. Vai trò giới “Vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể” (Hoàng Bá Thịnh, 2008, tr.
Có những quan niệm khác nhau về vai trò giới, tuy nhiên có thể hiểu vai trò giới một cách chung nhất là “vai trò giới là những trông đợi về những hành vi và quan điểm mà nền văn hóa xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới” (Hoàng Bá Thịnh, 2008, tr. Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam, nữ trong các loại công việc là khác nhau do quan niệm, chuẩn mực xã hội quy định. Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới. Vai trò giới được thể hiện, thay đổi thông qua quá trình xã hội hóa.
Vai trò giới có thể biến đổi qua các thời kỳ xã hội và khác nhau giữa các nền văn hóa. Mỗi thành viên trong gia đình đều có vai trò riêng, kéo theo đó là những chức năng mà cá nhân ấy phải thực hiện. Người phụ nữ trong gia đình có các vai trò đó là làm mẹ, làm vợ, làm con,… còn phía nam giới là làm cha, làm chồng, làm con,… tương ứng với vai trò đó là công việc phải thực hiện: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng. Trong gia đình, vai trò của các thành viên phụ thuộc lẫn nhau.
Các vai trò của nam giới thường mang tính đối ngoại, kinh tế, định hướng nên dễ biểu hiện, được xã hội đánh giá cao; còn vai trò của phụ nữ thường là làm công việc trong gia đình, nội trợ, nuôi dưỡng nên khó thể hiện vì vậy không được nhìn nhận đúng mức của xã hội và bị đánh giá thấp (Lê Thị Chiêu Nghi, 2001, tr. Vai trò của người phụ nữ 15 trong quan niệm truyền thống không được bình đẳng với nam giới. Họ được gán cho vai trò và trách nhiệm làm người nội trợ, nuôi dưỡng, chăm sóc con cái: “phụ nữ đảm đương việc nhà và chăm sóc trẻ con được xem là bổn phận của mình. Những hoạt động đó là những hoạt động mà giới nữ xem như sở hữu của mình.
Tất cả những đức tính này đang hay đã liên kết vào với thế giới việc làm, nó cũng được hình thành trong những phân tích về trách nhiệm việc nhà đối với phụ nữ” (Warren Kidd và các tác giả, 2006, tr. Trong quan hệ với người chồng, người phụ nữ đóng vai trò thụ động, là người thực hiện; còn nam giới là người chủ động, người ra lệnh để phụ nữ thực hiện. “Quyền hành trong gia đình nảy sinh ra lại dựa vào nguồn phân phối bất công trong gia đình; sự bất công về quyền lực, thiên về giới nam, cũng định hình việc phân chia về nguồn lực” (Warren Kidd và các tác giả, 2006, tr. Việc ứng dụng khái niệm vai trò giới vào trong đề tài là nhằm tìm hiểu về vai trò của người đàn ông thể hiện như thế nào thông qua các chức năng vị trí mà người nam đảm nhận trong đời sống hôn nhân và gia đình, dòng họ và cộng đồng.
Một số lý thuyết về giới 1. Lý thuyết chức năng giới Lý thuyết chức năng giới cho rằng, nam giới được gán cho chức năng chuyên môn (công cụ, nghề nghiệp) để tạo ra của cải vật chất còn phụ nữ có chức năng biểu đạt (văn hoá, tình cảm) để tạo ra của cải tinh thần. Emile Durkheim, nhà xã hội học người Pháp là một trong những đại diện tiêu biểu của lý thuyết này. Theo ông, chức năng giới được quy định một cách tự nhiên - sinh học, “bẩm sinh”, vốn có”.
Do vậy, sự phân công lao động trong xã hội phải tôn trọng và tuân theo sự hợp lý của tự nhiên, nếu khác đi là có “vấn đề”, là không bình thường (Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mĩ Lộc, 2000, tr. Ngay cả sự khác biệt đến mức bất bình đẳng giữa nam và nữ về lao động, việc làm và thu nhập cũng được một số tác giả thuộc trường phái chức năng cho là cần thiết và “hợp lý” để đảm bảo trật tự của hệ thống gia đình và xã hội. Lý thuyết xã hội hóa giới Theo lý thuyết này, vai trò giới (tương quan giới) là kết quả của quá trình xã hội hoá cá nhân. Các cấu trúc hành vi, tình cảm và thái độ đặc thù cho mỗi giới đã 16 có sẵn trong xã hội trước khi đứa trẻ chào đời.
Kể từ khi lọt lòng cho đến lúc mất đi con người không ngừng tiếp thu và làm theo các cấu trúc giới đang tồn tại một cách khách quan. Trẻ em nam và trẻ em nữ bắt chước, học tập các cách ứng xử theo khuôn mẫu quy định một cách tương ứng đối với nam hay nữ (Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mĩ Lộc, 2000, tr. Lý thuyết tương tác biểu trưng giới Lý thuyết tương tác biểu trưng giới cho rằng, mối tương quan giới là sản phẩm của quá trình tương tác giữa các cá nhân nam và nữ. Mối tương tác này bị quy định bởi các quy tắc, các biểu tượng, các ký hiệu và bộc lộ qua các hành vi, thái độ và suy nghĩ của nhau trong quá trình giao tiếp (Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mĩ Lộc, 2000, tr.
Trong giao tiếp hàng ngày đã hình thành nên một phức hợp các biểu tượng có ý nghĩa chung là phân biệt địa vị, lao động và hành vi giới. Ví dụ, cặp đại từ nhân xưng “anh - em” trong quan hệ vợ-chồng xác định rõ vị thế và tương ứng là các vai trò của mỗi người.