Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học (mã số 9310310) của tác giả Phạm Thị Tâm, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đức Lộc tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2023), mang tiêu đề: “Thích ứng về vai trò giới của vợ chồng trẻ nhập cư tại Thành phố Hồ Chí Minh (Nghiên cứu trường hợp dân nhập cư ở quận 9)”.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và di cư nông thôn – thành thị tại Việt Nam là một kênh tác động mạnh mẽ làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng suất lao động. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2009–2014, cả nước có khoảng 6,9 triệu người từ 5 tuổi trở lên thay đổi nơi cư trú (chiếm 7,92% dân số), tăng gần 50% so với giai đoạn 1994–1999 (4,5 triệu người). Đến năm 2015, cả nước có 10,2 triệu người di dân nội tỉnh và liên tỉnh; tỷ lệ cứ 3 hộ gia đình thì có 2 người di dân. Mặc dù nguồn lao động dồi dào này thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực thành thị, tình trạng nhập cư đông đảo cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp liên quan đến lao động, việc làm, đời sống hôn nhân và các mối quan hệ gia đình.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ cách tiếp cận đặc thù của nhân học đô thị: thay vì chỉ đo lường tần suất hay số lượng người thực hiện hành vi, nhân học tập trung trả lời các câu hỏi cá nhân nói điều gì, làm điều gì, với ai và tại sao. Đặt trong bối cảnh xã hội đô thị Việt Nam vẫn tồn tại định kiến giới gắn phụ nữ với công việc nội trợ, chăm sóc gia đình và hạn chế quyền quyết định, việc tìm hiểu sự biến đổi và thích ứng về vai trò giới của các cặp vợ chồng trẻ nhập cư từ nhiều vùng miền khác nhau đến sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh là một khoảng trống khoa học cần được lý giải thấu đáo.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Tìm hiểu những vai trò giới được định hình thông qua tiến trình xã hội hóa cá nhân của cả nam giới và nữ giới trưởng thành nhằm lý giải sự thay đổi hay thích ứng của người nhập cư đến quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Nhận diện hiện trạng quan điểm về chuẩn mực giới, vai trò giới truyền thống của các cặp vợ chồng trẻ nhập cư; luận giải nguồn gốc những chuẩn mực, vai trò giới truyền thống và phân tích mức độ ảnh hưởng của chúng tới ứng xử giữa các cặp vợ chồng trẻ nhập cư hiện nay.
    2. Phân tích và đánh giá thực trạng thích ứng vai trò giới của các cặp vợ chồng trẻ nhập cư tại quận 9 qua ba loại hình hoạt động: Sản xuất tạo thu nhập, Tái sản xuất và Sinh hoạt cộng đồng; làm rõ tác động của bối cảnh xã hội đô thị và đời sống nhập cư đến tư tưởng vai trò giới truyền thống.
    3. Lý giải những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng vai trò giới của các cặp vợ chồng trẻ, đồng thời dự báo những khó khăn, bất lợi trên khía cạnh giới từ quá trình thích ứng này.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Chuẩn mực giới, vai trò giới trong quan niệm truyền thống của các cặp vợ chồng trẻ nhập cư tại quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào? Liệu rằng quan niệm truyền thống người chồng là trụ cột kinh tế gia đình còn người vợ đảm nhiệm vai trò nội trợ, chăm sóc con cái vẫn còn ảnh hưởng mạnh trong tư tưởng, nhận thức và hành vi trước bối cảnh nhập cư tại đô thị?
  2. Thực trạng thích ứng vai trò giới của các cặp vợ chồng trẻ nhập cư tại quận 9 qua ba hoạt động: sản xuất, tái sản xuất và tham gia sinh hoạt cộng đồng có đang tạo ra sự bất bình đẳng về giới hay không? Người vợ hay người chồng đang bị tổn thương từ thực trạng này?
  3. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thích nghi, quá trình thương thảo, sắp xếp vai trò để tạo nên trật tự phân công vai trò giới trong gia đình là gì? Yếu tố sinh kế với đặc điểm khả năng tạo thu nhập kinh tế của người vợ và người chồng ảnh hưởng như thế nào đối với mô thức vai trò trong đời sống hôn nhân gia đình?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Đa phần các cặp vợ chồng trẻ nhập cư xuất thân từ nông thôn ra thành thị nên chịu ảnh hưởng từ quá trình xã hội hóa cá nhân trong khung cảnh xã hội cổ truyền. Việc cư trú tại đô thị và kết hôn giữa những người đến từ các vùng miền khác nhau tạo ra nhận thức thoáng hơn so với thế hệ trước, nhưng quan niệm truyền thống về người chồng là trụ cột kinh tế và người vợ làm nội trợ vẫn còn tồn tại.
  • Trong bối cảnh việc làm tại đô thị, cơ hội thu nhập giúp nữ giới rút ngắn khoảng cách với nam giới, thúc đẩy sự cân bằng hơn trong phân công lao động gia đình; tuy nhiên, gánh nặng "vai trò kép" của phụ nữ (vừa kiếm thu nhập vừa làm nội trợ, chăm sóc con cái) vẫn tiếp diễn. Môi trường sống đô thị làm nảy sinh tính chất hoán đổi và cân bằng vai trò giới, đưa yếu tố kinh tế – xã hội trở thành điều kiện làm thay đổi trật tự phân công lao động theo giới trong gia đình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự thích ứng về vai trò giới của vợ chồng trẻ nhập cư tại Thành phố Hồ Chí Minh (nghiên cứu trường hợp dân nhập cư ở quận 9).
  • Khách thể nghiên cứu: Nhóm khách thể chính là các đôi vợ chồng trẻ có độ tuổi từ 35 trở xuống, mới kết hôn lần đầu, thời gian kết hôn từ 1 đến dưới 5 năm, sinh sống ổn định tại Thành phố Hồ Chí Minh từ 6 tháng đến 10 năm. Nhóm khách thể bổ trợ gồm các tổ trưởng khu phố và cán bộ ban văn hóa gia đình tại các phường nhằm cung cấp thông tin toàn diện về đời sống hôn nhân và các mâu thuẫn cần chính quyền can thiệp.
  • Phạm vi không gian: Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Thành phố Thủ Đức) – địa bàn có tỷ lệ dân số tăng 62%/10 năm, đứng thứ 3 trong 24 quận/huyện về tỷ lệ dân nhập cư so với dân số quận/huyện theo số liệu cư trú năm 2019. Khu vực này có tốc độ đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều xí nghiệp, khu công nghệ cao, tiếp giáp Xa lộ Hà Nội, tuyến Metro Bến Thành – Suối Tiên, đường Vành đai 3 và Cao tốc TPHCM – Long Thành – Dầu Giây.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa bắt đầu từ tháng 2 năm 2019; bối cảnh nghiên cứu gắn liền với tác động của quá trình đô thị hóa tại quận 9 trong khoảng thời gian 20 năm (tính từ năm 1999 đến năm 2019).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào sự thích ứng vai trò giới qua ba lĩnh vực hoạt động: Sản xuất tạo thu nhập, Tái sản xuất, và Sinh hoạt cộng đồng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai hướng tiếp cận chính:

1. Các nghiên cứu về sự thích ứng với môi trường văn hóa mới và thích ứng xã hội

  • Nghiên cứu quốc tế:
    • Manuel Gamio (1929) nghiên cứu người nhập cư Mexico tại Hoa Kỳ và là người đầu tiên sử dụng khái niệm "cú sốc văn hóa" để mô tả sự va đập văn hóa và quá trình thích nghi sinh học/xã hội.
    • Kalervo Oberg (1960) đưa ra khái niệm "sốc văn hóa" (culture shock) trong công trình Cú sốc siêu việt: Điều chỉnh đối với môi trường văn hóa mới, phân tích các cảm xúc tiêu cực, khủng hoảng định hướng giá trị khi cá nhân bước vào môi trường mới.
    • Triandis H. gắn sốc văn hóa với mô hình đường cong chữ U của quá trình thích ứng qua 5 giai đoạn: Trăng mật – Khủng hoảng – Khủng hoảng cao độ – Phục hồi – Thích ứng.
    • A. Anumonye (1970) tiếp cận nhóm sinh viên châu Phi học tập tại Anh để chỉ ra các rắc rối tâm lý nảy sinh do không thích ứng với môi trường văn hóa mới.
    • Singh A. khảo sát sức khỏe tâm thần của sinh viên tại Hồng Kông, ghi nhận tỷ lệ gặp vấn đề tâm lý ở sinh viên Anh là 14%, trong khi sinh viên nước ngoài cao hơn đáng kể (Ai Cập: 22,5%; Nigeria: 28,1%; Thổ Nhĩ Kỳ: 21%; Ấn Độ: 17,6%).
  • Nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Vũ Thị Nho và cộng sự (1994–1996) nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập của 420 học sinh tiểu học dưới góc độ thích ứng xã hội.
    • Đỗ Mạnh Tôn (1996) nghiên cứu sự thích ứng trong học tập và rèn luyện của học viên các trường sĩ quan quân đội.
    • Phan Quốc Lâm (2000) khảo sát 168 học sinh lớp một và 117 giáo viên tiểu học, chỉ ra 10% học sinh thích ứng tốt, 75% trung bình khá và 15% chưa thích ứng.
    • Nguyễn Xuân Thức (2002–2004) đánh giá sự thích ứng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội.
    • Nguyễn Phương và Nguyễn Quyên (2017) khảo sát sự thích ứng nghề nghiệp trước sự xuất hiện của kinh tế nền tảng số và việc làm từ xa.
    • Lê Hương (2018) nghiên cứu mối liên hệ giữa thái độ đối với công việc và năng lực thích ứng, cạnh tranh của người lao động.
    • Viện Tâm lý học (2004) thực hiện đề tài cấp bộ về tâm trạng và nguyện vọng của cư dân Tây Nam Bộ, nghiên cứu sự thích ứng dân tộc và văn hóa của người Khmer, người Hoa.

2. Các nghiên cứu về sự thích ứng vai trò giới trong bối cảnh phân công lao động và biến đổi kinh tế

  • Trường phái kinh tế cổ điển và quyết định luận sinh học:
    • Thomas Robert Malthus (1814) và Jean Baptiste Say (1816) áp dụng các phương pháp kinh tế cổ điển ban đầu để nhìn nhận phân công lao động theo giới.
    • Karl Marx và Friedrich Engels (1869), Marshall (1888), Jary & Jary chỉ ra sự tách rời nơi làm việc khỏi nơi ở, phân định giữa lĩnh vực công (trả công, gắn với nam giới) và lĩnh vực tư (lao động gia đình không trả công, gắn với phụ nữ).
    • Epstein (1888) và David Barash (1979) đại diện cho thuyết quyết định luận sinh học, xem sự khác biệt vai trò giới bắt nguồn từ các chương trình hóa sinh học (gen di truyền, hormone, cấu trúc não bộ).
  • Trường phái kinh tế gia đình và lý thuyết quyền mặc cả:
    • Paula England và George Farkas (1986) xây dựng mô hình xem gia đình như một "hợp đồng ẩn dụ", trong đó quyền lực và quyền ra quyết định của vợ/chồng phụ thuộc vào nguồn lực đóng góp kinh tế và các cơ hội lựa chọn thay thế bên ngoài hôn nhân.
  • Tư liệu dân tộc học so sánh:
    • Các nghiên cứu dân tộc học về người Pygmy (vùng Ituri, châu Phi), người da đỏ Shoshone (Tây Nam Mỹ), người Bushman (sa mạc Kalahari), người Tierra del Fuegans (Nam Mỹ) và thổ dân Úc chứng minh cả nam và nữ đều nắm giữ các vai trò kinh tế thiết yếu, phụ nữ độc lập và có vị thế cao trong phương thức sinh kế săn bắt – hái lượm.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án định vị nghiên cứu vào việc lấp đầy khoảng trống về dữ liệu thực nghiệm liên ngành (Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học và Kinh tế học) đối với nhóm vợ chồng trẻ nhập cư tại một địa bàn ven đô đang công nghiệp hóa mạnh mẽ (Quận 9, TPHCM). Luận án không dừng lại ở mô tả phân công lao động bề mặt, mà đi sâu phân tích cấu trúc thích ứng vai trò giới qua cả ba chiều kích: kinh tế (sản xuất), gia đình (tái sản xuất) và xã hội (sinh hoạt cộng đồng).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống khái niệm công cụ

  1. Người nhập cư: Tiếp cận theo định nghĩa của IOM (1998), Hoàng Phê (2004), Trương Văn Tuấn (2010), Lê Văn Thành (2017) và Liên Hiệp Quốc (1998); xác định cụ thể là người lao động từ 35 tuổi trở xuống, từ các tỉnh thành khác di chuyển tự do đến Quận 9 – TPHCM để sinh sống, làm việc lâu dài hoặc tạm thời, có hoặc không có hộ khẩu thường trú, và đã kết hôn.
  2. Giới và Giới tính: Phân biệt rõ theo Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006. Giới tính mang tính sinh học, bất biến; Giới là tập hợp các đặc điểm, vị trí, vai trò xã hội được hình thành qua quá trình xã hội hóa và biến đổi theo không gian, thời gian.
  3. Vai trò giới: Dựa trên khung phân tích của Caroline Moser (1993), Dahrendorf, Trần Thị Kim Xuyến (2001), Lê Thị Mai (2013), Đoàn Văn Trường và Nguyễn Thị Thanh Thúy (2016). Vai trò giới gồm 3 loại hình:
    • Vai trò sản xuất: Các hoạt động tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa có thu nhập hoặc trả công.
    • Vai trò tái sản xuất: Các hoạt động sinh sản, nuôi dưỡng, chăm sóc, làm việc nhà, tái tạo sức lao động (thường không được trả công).
    • Vai trò cộng đồng: Tham gia vào các dịch vụ, sự kiện văn hóa, an sinh, cứu trợ, họp tổ dân phố tại khu dân cư.
  4. Sự thích ứng: Dựa theo Hoàng Phê (2017), là sự thay đổi của con người nhằm phù hợp với các điều kiện mới, yêu cầu mới của môi trường tự nhiên và xã hội, đồng thời thể hiện tính năng động tác động trở lại môi trường.
  5. Gia đình và Gia đình trẻ: Tiếp cận theo George Murdock, Charles L. Jones & Lorne Tepperman (2002), Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (2005/2009), Hà Văn Tác (2016); xác định gia đình trẻ là các cặp vợ chồng chưa quá 35 tuổi, mới kết hôn lần đầu, thời gian kết hôn chưa quá 5 năm, có từ 0 đến 2 con.

Hướng tiếp cận lý thuyết

Luận án vận dụng kết hợp ba khung lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết Chức năng – Cấu trúc của Nhân học xã hội Anh: Đại diện bởi A. Radcliffe-Brown (kế thừa tư tưởng Émile Durkheim về đoàn kết cơ học và hữu cơ), xem xét gia đình như một tiểu hệ thống duy trì trật tự xã hội. Thuyết này dùng để giải thích tính ổn định hoặc xung đột khi các chức năng chuyên môn (công cụ/kinh tế của người chồng) và chức năng biểu đạt (tình cảm/chăm sóc của người vợ) bị biến đổi trong môi trường đô thị.
  • Lý thuyết Thích ứng trong di dân: Kết hợp "Mô hình hai khu vực" của Arthur Lewis (1954) về sự dịch chuyển lao động dư thừa nông nghiệp sang công nghiệp, và mô hình "Thu nhập kỳ vọng" của John R. Harris & Michael Todaro (1970) về động cơ di cư dựa trên kỳ vọng thu nhập và sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức ở đô thị.
  • Thuyết Kiến tạo xã hội: Khởi xướng bởi Peter Berger và Thomas Luckmann (1966/1971) qua tác phẩm The Social Construction of Reality. Thuyết này khẳng định cả giới tính và giới đều là sản phẩm kiến tạo xã hội thông qua quá trình tương tác, điển hình hóa hỗ tương và định chế hóa. Sự thay đổi chuẩn mực vai trò giới diễn ra khi các cặp vợ chồng trẻ tái định nghĩa các khuôn mẫu ứng xử trong đời sống hàng ngày.

Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods), kết hợp chặt chẽ giữa định lượng và định tính:

1. Phương pháp nghiên cứu định lượng

  • Tổng thể và chọn mẫu: Tổng thể khảo sát gồm $N = 425$ hộ gia đình đáp ứng đủ 3 tiêu chuẩn (vợ chồng $\le 35$ tuổi, kết hôn lần đầu dưới 5 năm, nhập cư từ 6 tháng đến 10 năm) tại 13 phường thuộc Quận 9 ở thời điểm đầu năm 2019.
  • Công thức xác định cỡ mẫu: Áp dụng công thức chọn mẫu của H. Russell Bernard (2007): $$n = \frac{NP(1-P)}{C^2(N-1) + X^2P(1-P)}$$ Cỡ mẫu tính toán đạt được là $n = 203$ hộ gia đình (tương đương khảo sát $406$ cá nhân gồm cả vợ và chồng).
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy: $$k = \frac{425}{203} \approx 2,09$$ (Cứ khoảng 2 hộ trong danh sách 425 hộ sẽ chọn 1 hộ khảo sát).
  • Công cụ và xử lý số liệu: Bản hỏi cấu trúc hơn 30 tiêu chí, thu thập qua thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 26.0 (thống kê mô tả, kiểm định Chi bình phương $\chi^2$, phân tích tương quan, phân tích nhân tố khám phá EFA).
  • Phân đoạn khoảng cách thang đo Likert: $$\text{Khoảng cách} = \frac{\text{Giá trị lớn nhất} - \text{Giá trị nhỏ nhất}}{n} = \frac{5 - 1}{5} = 0,8$$
Khoảng giá trị điểm trung bình (Mean) Mức độ nhận định
1,00 – 1,80 Rất không đồng ý
1,81 – 2,60 Không đồng ý
2,61 – 3,40 Không chắc chắn
3,41 – 4,20 Đồng ý
4,21 – 5,00 Rất đồng ý

2. Phương pháp nghiên cứu định tính

  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện trên mẫu chủ đích gồm 25 người: 20 cá nhân thuộc 10 cặp vợ chồng trẻ (chia thành 2 nhóm: nhóm trí thức và nhóm lao động phổ thông), cùng 3 tổ trưởng khu phố và 2 cán bộ ban văn hóa gia đình phường. Các cuộc phỏng vấn có ghi âm (hoặc ghi chép nhanh), sau đó gỡ băng và mã hóa theo chủ đề.
  • Quan sát tham dự: Tác giả tiến hành quan sát trực tiếp đời sống hàng ngày của 6 hộ gia đình đại diện (thuộc 6 phường khác nhau) với các đặc điểm đa dạng:
    • Hộ 1: Kết hôn gần 2 năm, chưa có con, chồng làm cơ khí, vợ làm công nhân dệt may.
    • Hộ 2: Kết hôn hơn 3 năm, có 1 con gái gần 1 tuổi, cả hai là công nhân công ty gỗ.
    • Hộ 3: Kết hôn gần 5 năm, 2 con gái, chồng làm tự do, vợ bán tạp hóa và nội trợ.
    • Hộ 4: Kết hôn hơn 2 năm, chưa có con, cả hai là nhân viên kế toán ngân hàng.
    • Hộ 5: Kết hôn hơn 3 năm, 1 con trai, chồng là giáo viên cấp hai, vợ là nhân viên kiểm kho công ty gỗ.
    • Hộ 6: Kết hôn gần 5 năm, 2 con, chồng là kỹ thuật viên công ty xi măng, vợ buôn bán sạp vải.
    • Tác giả kết hợp quan sát các sinh hoạt thực tế (nấu ăn, đi chợ, chăm con) và các hoạt động cộng đồng (họp tổ dân phố, vệ sinh khu phố, lễ cưới, lễ hội).
  • Nghiên cứu trường hợp điển hình: Khai thác sâu từ 20 trường hợp phỏng vấn sâu để làm rõ động cơ, bối cảnh đằng sau các hành vi thích ứng cụ thể.

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục luận án gồm phần Mở đầu (Dẫn luận), 4 chương nội dung chính, phần Kết luận, Danh mục các công trình công bố, Tài liệu tham khảo và Phụ lục.

Chương 1: Cơ sở lý luận và đặc điểm nhân khẩu khách thể nghiên cứu

  • Hệ thống hóa lý luận: Thao tác hóa 5 khái niệm trọng tâm (Người nhập cư, Giới, Vai trò giới, Thích ứng, Gia đình/Gia đình trẻ); phân tích 3 lý thuyết nền tảng (Chức năng – Cấu trúc của Radcliffe-Brown; Thích ứng di dân của Lewis, Harris & Todaro; Kiến tạo xã hội của Berger & Luckmann).
  • Tổng quan địa bàn Quận 9: Phân tích đặc điểm đô thị hóa của 13 phường; chỉ ra các phường có mức độ đô thị hóa trên 70% và tỷ lệ dân nhập cư trên 30% như Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B, Phước Long A, Phước Long B, Tân Phú.
  • Đặc điểm nhân khẩu mẫu nghiên cứu: Trình bày cấu trúc nhân khẩu học của 406 người trả lời bản hỏi (Bảng 1 trong luận án) về độ tuổi ($\le 35$), thời gian kết hôn (1 đến dưới 5 năm), thời gian cư trú (6 tháng đến 10 năm), trình độ học vấn, cơ cấu nghề nghiệp (công nhân, nhân viên văn phòng, lao động tự do, buôn bán), và tình trạng nhà ở (thuê trọ hoặc nhà riêng).

Chương 2: Quan niệm về vai trò, chuẩn mực người vợ, người chồng trong gia đình vợ chồng trẻ nhập cư

  • Quan niệm về chuẩn mực người chồng: Đánh giá nhận thức về vai trò người chồng là "trụ cột kinh tế" và "chủ gia đình", phân tích sự khác biệt ý kiến theo giới tính của người trả lời, theo nơi xuất cư (Bắc, Trung, Nam) và theo trình độ học vấn (phổ thông và đại học/sau đại học).
  • Quan niệm về chuẩn mực người vợ: Khảo sát mức độ duy trì các giá trị truyền thống (công, dung, ngôn, hạnh, đảm đang nội trợ, chăm sóc con cái) so với yêu cầu đóng góp kinh tế trong đời sống hiện đại; phân tích tương quan giữa quan niệm của người vợ với trình độ học vấn và nơi xuất cư.
  • Sự kỳ vọng và xung đột vai trò: Làm rõ các điểm va đập giữa kỳ vọng xã hội hóa truyền thống từ gia đình gốc và thực tế cuộc sống đô thị; nhận diện những mâu thuẫn nảy sinh khi người chồng hoặc người vợ không đáp ứng trọn vẹn các khuôn mẫu chuẩn mực đã định hình từ trước.

Chương 3: Thực trạng thích ứng vai trò giới trong gia đình vợ chồng trẻ nhập cư

  • Thích ứng trong lĩnh vực sản xuất tạo thu nhập: Phân tích cơ cấu nghề nghiệp và mức độ đóng góp tài chính của vợ và chồng; kết quả kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$) về mối liên hệ giữa thu nhập, học vấn với sự tham gia kinh tế; ghi nhận mức độ đồng ý cao đối với nhận định "Người phụ nữ cũng cần đóng góp thu nhập cho gia đình".
  • Thích ứng trong lĩnh vực tái sản xuất: Phân tích thực trạng phân công công việc nội trợ, nấu ăn, dọn dẹp và chăm sóc/nuôi dạy con cái; đánh giá mức độ đồng ý với nhận định "Công việc nội trợ là của riêng người phụ nữ" theo trình độ học vấn và nơi xuất cư; chỉ rõ gánh nặng "vai trò kép" mà người phụ nữ nhập cư phải gánh vác khi vừa đi làm kiếm tiền vừa quán xuyến việc nhà.
  • Thích ứng trong hoạt động sinh hoạt cộng đồng: Khảo sát mức độ tham gia họp tổ dân phố, họp khu phố (ai là người đi họp chính giữa vợ và chồng); đánh giá ảnh hưởng của số con, độ tuổi, quy mô gia đình và mức thu nhập đến việc tham gia các hoạt động vui chơi giải trí và mức độ tương tác với láng giềng khu dân cư; chỉ ra các rào cản hạn chế phụ nữ nhập cư tham gia hoạt động xã hội.

Chương 4: Yếu tố tác động đến sự thích ứng về vai trò giới và giữ gìn hạnh phúc gia đình của vợ chồng trẻ nhập cư

  • Các yếu tố tác động đến sự thích ứng: Luận giải vai trò chi phối của các nhóm yếu tố:
    • Yếu tố kinh tế – sinh kế: Khả năng tạo thu nhập, tính chất công việc, áp lực chi phí sinh hoạt đô thị.
    • Yếu tố văn hóa – xã hội: Nơi xuất cư, trình độ học vấn, sự tiếp cận thông tin truyền thông về bình đẳng giới.
    • Yếu tố cấu trúc gia đình và cư trú: Việc sống chung hay không sống chung với bố mẹ hai bên, số lượng con cái, diện tích nhà trọ, tình trạng đăng ký tạm trú/thường trú.
  • Sự thích ứng vai trò giới trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đình: Phân tích các chiến lược thương thảo, hoán đổi vai trò linh hoạt giữa hai vợ chồng nhằm giảm tải căng thẳng tài chính và chăm sóc con cái; chỉ ra cơ chế giải quyết xung đột nội bộ gia đình mà không cần đến sự can thiệp của chính quyền địa phương.

Tổng hợp danh mục bảng số liệu và biểu đồ then chốt trong luận án

Danh mục Bảng số liệu tiêu biểu trong luận án Nội dung khảo sát
Bảng 1 Đặc điểm nhân khẩu mẫu nghiên cứu ($n=406$)
Bảng 2 Quan niệm về vai trò, chuẩn mực người chồng phân theo giới tính, nơi xuất cư, học vấn
Bảng 2 (tiếp) Quan niệm về người chủ gia đình phân theo giới tính và trình độ học vấn
Bảng 2 (tiếp) Quan niệm về vai trò, chuẩn mực người vợ phân theo giới tính, nơi xuất cư, học vấn
Bảng 2 (tiếp) Nghề nghiệp chính của vợ và chồng; Kiểm định Chi bình phương các yếu tố
Bảng 3 Mức độ đồng ý với nhận định “Người phụ nữ cũng cần đóng góp thu nhập”
Bảng 3 (tiếp) Mức độ đồng ý với nhận định “Công việc nội trợ là của riêng người phụ nữ” theo học vấn và nơi xuất cư
Bảng 3 (tiếp) Người đi họp, tham gia sinh hoạt khu phố, cộng đồng theo ý kiến của vợ và chồng
Bảng 3 (tiếp) Ảnh hưởng của số con, độ tuổi, quy mô gia đình và thu nhập tới tương tác cộng đồng và giải trí
Bảng (Chương 4) Mức độ đồng ý về các nhận định phân theo giới tính
Danh mục Biểu đồ tiêu biểu trong luận án Nội dung trực quan hóa
Biểu đồ 2 Người chủ trong gia đình theo ý kiến người trả lời
Biểu đồ (tiếp) Lý do người vợ quan niệm người chồng là người chủ trong gia đình
Biểu đồ (tiếp) Những áp lực, khó khăn trong cuộc sống gia đình theo giới tính
Biểu đồ (tiếp) Mức độ đóng góp thu nhập của vợ chồng phân theo giới tính
Biểu đồ (tiếp) Phân công công việc theo giới trong gia đình
Biểu đồ (tiếp) Mức độ tham gia họp tổ dân phố trong gia đình
Biểu đồ (tiếp) Các hoạt động vui chơi, giải trí của vợ chồng trẻ nhập cư
Biểu đồ (tiếp) Những hạn chế của phụ nữ khi tham gia hoạt động ngoài xã hội

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án đưa ra luận điểm mới trong nghiên cứu về sự thích ứng vai trò giới của nhóm vợ chồng trẻ nhập cư dưới tác động trực tiếp của quá trình đô thị hóa tại một đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Góp phần bổ sung lý thuyết nhân học về giới và gia đình thông qua việc làm rõ tính đặc thù của chuẩn mực giới truyền thống chịu sự quy định của văn hóa, hoàn cảnh lịch sử và môi trường địa lý cụ thể khi chuyển dịch từ nông thôn sang đô thị.
  3. Kiểm chứng và làm phong phú thêm việc vận dụng liên ngành các lý thuyết: Thuyết Chức năng – Cấu trúc (Radcliffe-Brown), Thuyết Thích ứng trong di dân (Lewis, Harris & Todaro) và Thuyết Kiến tạo xã hội (Berger & Luckmann) trong nghiên cứu thực nghiệm về gia đình di cư.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng mô tả chi tiết thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi phân công lao động theo ba loại hình vai trò giới (sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng) của các cặp vợ chồng trẻ tại Quận 9.
  2. Làm rõ hiện tượng người phụ nữ nhập cư dù đã nâng cao vị thế thông qua đóng góp kinh tế nhưng vẫn phải gánh vác gánh nặng "vai trò kép", từ đó chỉ ra những điểm bất bình đẳng giới và nguy cơ tổn thương tâm lý, sức khỏe trong đời sống hôn nhân trẻ.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn cho các nhà nghiên cứu chuyên ngành Dân tộc học, Xã hội học và các cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng các dự báo khoa học và hoạch định chính sách an sinh xã hội, bình đẳng giới.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Cần có các chính sách an sinh xã hội, nhà ở công nhân, nhà trẻ công lập tại các khu vực tập trung đông dân nhập cư để hỗ trợ giảm tải gánh nặng tái sản xuất cho các cặp vợ chồng trẻ.
  • Đẩy mạnh công tác truyền thông bình đẳng giới tại cấp cơ sở (tổ dân phố, khu phố), khuyến khích nam giới chia sẻ công việc nội trợ và chăm sóc con cái.
  • Cải thiện thủ tục quản lý cư trú, tạo điều kiện thuận lợi cho người nhập cư tiếp cận các dịch vụ công và hòa nhập tích cực vào các hoạt động sinh hoạt văn hóa – xã hội tại cộng đồng nơi cư trú.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn tại một địa bàn đại diện là Quận 9 (nay thuộc Thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng so sánh với các quận nội thành cũ hoặc các huyện ngoại thành có đặc thù kinh tế khác.
  • Khách thể nghiên cứu tập trung vào nhóm vợ chồng trẻ có độ tuổi $\le 35$, kết hôn lần đầu dưới 5 năm; do đó các phát hiện chưa bao quát các giai đoạn sau của chu kỳ đời sống gia đình (khi con cái bước vào tuổi trưởng thành).
  • Dữ liệu khảo sát phản ánh bối cảnh năm 2019, thời điểm trước khi sáp nhập Quận 9 vào Thành phố Thủ Đức và trước các biến động lớn của đại dịch.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh giữa các nhóm nhập cư tại các đô thị vệ tinh hoặc các trung tâm công nghiệp khác tại vùng Đông Nam Bộ.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal studies) để theo dõi sự biến đổi vai trò giới của chính các cặp vợ chồng này qua các giai đoạn tiếp theo của chu kỳ gia đình (sau 5–10 năm kết hôn).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên:
    • Là tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên ngành Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học, Giới và Phát triển, Nghiên cứu Đô thị.
    • Phần Phương pháp nghiên cứu và Cơ sở lý luận (Chương 1) rất đáng tham khảo về cách thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods), công thức tính cỡ mẫu của Bernard (2007), kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, bảng phân đoạn thang đo Likert, và sự kết hợp phương pháp điền dã quan sát tham dự dài hạn với phỏng vấn sâu.
  • Đối với cán bộ quản lý đô thị và người làm chính sách:
    • Cung cấp bức tranh thực tế về đời sống kinh tế, áp lực gia đình và mức độ tham gia xã hội của cư dân nhập cư tại các đô thị mới, hữu ích cho việc xây dựng chính sách văn hóa – gia đình, quản lý cư trú và bình đẳng giới tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng của luận án được tính toán dựa trên cơ sở khoa học nào?

Cỡ mẫu định lượng được xác định từ tổng thể $N = 425$ hộ gia đình thỏa mãn 3 tiêu chuẩn chọn mẫu tại 13 phường ở Quận 9, áp dụng công thức tính cỡ mẫu trong cuốn Research Methods in Anthropology của H. Russell Bernard (2007). Kết quả tính được là $n = 203$ hộ gia đình (tổng cộng 406 cá nhân gồm cả vợ và chồng), chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy $k = 425 / 203 \approx 2,09$.

2. Luận án sử dụng những khung lý thuyết nền tảng nào?

Luận án kết hợp 3 khung lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết Chức năng – Cấu trúc của Nhân học xã hội Anh (A. Radcliffe-Brown, kế thừa Émile Durkheim).
  2. Lý thuyết Thích ứng trong di dân ("Mô hình hai khu vực" của Arthur Lewis 1954 và mô hình "Thu nhập kỳ vọng" của John R. Harris & Michael Todaro 1970).
  3. Thuyết Kiến tạo xã hội (Peter Berger & Thomas Luckmann 1966/1971 trong The Social Construction of Reality).

3. Ba loại hình vai trò giới được khảo sát trong luận án là gì?

Dựa theo khung phân tích giới của Caroline Moser (1993), luận án khảo sát 3 loại hình vai trò giới:

  • Vai trò sản xuất: Các hoạt động nghề nghiệp tạo ra thu nhập và đóng góp kinh tế.
  • Vai trò tái sản xuất: Công việc nội trợ, nấu ăn, dọn dẹp, sinh con, chăm sóc và giáo dục con cái.
  • Vai trò sinh hoạt cộng đồng: Tham gia họp tổ dân phố/khu phố, tương tác láng giềng và các hoạt động công ích, giải trí tại địa phương.

4. Tiêu chí lựa chọn khách thể nghiên cứu "vợ chồng trẻ nhập cư" gồm những gì?

Khách thể nghiên cứu phải đáp ứng đồng thời các tiêu chí: (a) Độ tuổi cả hai vợ chồng từ 35 tuổi trở xuống; (b) Mới kết hôn lần đầu; (c) Thời gian kết hôn từ 1 đến dưới 5 năm; (d) Thời gian nhập cư và sinh sống ổn định tại TPHCM từ 6 tháng đến 10 năm.

5. Thang đo Likert trong xử lý dữ liệu được phân đoạn như thế nào?

Luận án sử dụng thang đo Likert 5 mức độ với khoảng cách giá trị là $0,8$:

  • 1,00 – 1,80: Rất không đồng ý.
  • 1,81 – 2,60: Không đồng ý.
  • 2,61 – 3,40: Không chắc chắn.
  • 3,41 – 4,20: Đồng ý.
  • 4,21 – 5,00: Rất đồng ý.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Dân tộc học của tác giả Phạm Thị Tâm là một công trình nghiên cứu công phu về sự thích ứng vai trò giới của các cặp vợ chồng trẻ nhập cư tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giữa khảo sát định lượng trên 406 cá nhân và các kỹ thuật điền dã dân tộc học chuyên sâu (phỏng vấn sâu 25 người, quan sát tham dự 6 hộ gia đình), luận án đã làm rõ sự biến đổi, hoán đổi và những rào cản trong việc thực hiện vai trò sản xuất, tái sản xuất và sinh hoạt cộng đồng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù cơ hội việc làm tại đô thị giúp nâng cao vị thế kinh tế của phụ nữ, gánh nặng "vai trò kép" vẫn đặt ra những thách thức lớn đối với bình đẳng giới và hạnh phúc gia đình trẻ. Công trình đóng góp nguồn tư liệu thực chứng và cơ sở lý luận liên ngành giá trị cho nghiên cứu nhân học đô thị, xã hội học gia đình và công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.