Chương 1: Những vấn đề liên quan đến cơ sở lý luận. Nội dung sẽ bao gồm: thao tác hóa các khái niệm, các lý thuyết áp dụng, các công trình liên quan đến luận án, tổng quan về địa bàn nghiên cứu và đặc điểm mẫu nghiên cứu. Chương 2: Quan niệm về vai trò, chuan mực người vợ, người chồng trong gia đình vợ chồng trẻ nhập cư. Chương 3: Thực trạng thích ứng vai trò giới trong gia đình vợ chồng trẻ nhập cư qua ba hoạt động vai trò giới: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò tham gia sinh hoạt cộng đồng.
Trong chương này, chúng tôi sẽ phân tích, so sánh những quan điểm từ những nhóm khách thé khác nhau dé đánh giá khả năng thích ứng của từng nhóm. 17 Chương 4: Yếu tố tác động đến sự thích ứng về vai trò giới và giữ gìn hạnh phúc gia đình của vợ chồng trẻ nhập cư. Mục tiêu chương này sẽ tìm hiểu và lý giải vì sao những nhóm khách thê này lại có những sự thích ứng về vai trò giới như vậy? những yếu tô nào tác động manh/yéu nhất? vì sao? Phần Kết luận sẽ tập trung vào việc chỉ ra sự thích ứng về vai trò giới của các đôi vợ chồng trẻ trong gia đình nhập cư có đang gặp khó khăn gì không? Sự bat bình đăng giới có diễn ra trong sự thích ứng ấy hay không hay giới nào đang bị thiệt thòi/tốn thương tự sự thích ứng vai trò giới đó? 18 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DAC DIEM NHÂN KHẨU KHÁCH THẺ NGHIÊN CỨU Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề về cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu bao gồm: Một số khái niệm, hướng tiếp cận lý thuyết và đặc điểm nhân khâu mẫu khảo sát.1 Một số khái niệm Chúng tôi thao tác hóa các khái niệm liên quan đến luận án, bao gồm: Người nhập cư, Giới, Vai trò giới, Sự thích ứng và Gia đình — Gia đình trẻ. - Người nhập cư Tổ chức di cư quốc tế được viết tắt là IOM trong Hội thảo quốc tế về di dan toàn cầu diễn ra tại Malaysia năm 1998 đã đưa ra quan điểm về di cư: “Di cw là sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kế cả qua biên giới quốc té hay trong một quốc gia.
Là sự di chuyển dân số, bao gồm bết kể loại di chuyển nào của con người, bat ké độ dài, thành phan hay nguyên nhân; nó bao gom di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì những mục đích khác, trong đó có đoàn tu gia đình”. Theo một cách hiểu khác, nhập cư là hành động di chuyền chỗ ở đến, vào một vùng hay một quốc gia mới. Người nhập cư là người di chuyển từ một vùng đến một vùng khác dé định cư hoặc tạm trú (Hoàng Phê, 2004: 196). Một nghiên cứu của Trương Văn Tuấn năm 2010 chia sẻ quan niệm về nhập cư của tác giả Gary L.
Peters, nhập cư là hiện tượng dân số tăng cơ học nhờ dân di chuyên đến khu vực mới, một đơn vị hành chính mới; dân cư mới đến được gọi là dân nhập cư (Trương Văn Tuấn, 2010: 147). Ở góc độ cụ thể hơn, theo một nghiên cứu của tác giả Lê Văn Thành được thực hiện ở TPHCM, nơi có lượng nhập cư cao nhất cả nước thì dân nhập cư ở TPHCM được xác định là những người từ các tỉnh khác về sinh sống, làm việc tại Thành phố và chưa có hộ khâu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Còn những 19 người từ các tỉnh về Thành phố nhưng đã được giải quyết hộ khâu thường trú vì đủ tiêu chuẩn quy định không nam trong phạm vi này (Lê Văn Thành, 2017). Như vậy, dé xác định là người nhập cư hay không phải là người nhập cư thì sẽ căn cứ vào việc nhập hộ khẩu của người dân.
Một quan niệm khác từ Liên Hiệp Quốc “Người nhập cư dài hạn là những người ở lại nước tiếp nhận trong thời gian hơn một năm, mặc dù họ không liên tục sinh sống tại nước đó trong vòng hơn một năm” (United Nations, 1998). Ở các khái niệm tuy có sự khác nhau về câu chữ nhưng tựu chung có ba điểm trùng hợp, đó là: (1) Sự di chuyển của một người hay một nhóm người đến một đơn vị hành chính mới với mục đích thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc với mục đích khác; (2) Sự chuyên đến này có thé là tự nguyện hoặc bắt buộc; (3) Việc cư trú tại nơi tiếp nhận có thê dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú. Sự đa dạng trong cách hiểu về nhập cư, người nhập cư phản ánh thực tế do đặc thù văn hóa, điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia là khác nhau và bản thân các nhà nghiên cứu cũng điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích nghiên cứu của minh. Kế thừa nền tảng kiến thức trên, chúng tôi tiếp cận khái niệm nhập cư theo cách hiểu là hành động di chuyên chỗ ở đến một địa phương khác của một người hoặc một nhóm người dé sinh sống lâu dài hoặc tạm thời.
Còn người nhập cư là người từ một địa phương, một nước hay vùng lãnh thé này di chuyên đến một địa phương, một nước hay vùng lãnh thổ khác đề sinh sống, làm việc. Cách hiểu này nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa người nhập cư và nơi nhập cư. Cụ thê hơn, chúng tôi đã xác định người nhập cư trong nghiên cứu này là những người lao động có độ tuổi từ 35 tuổi trở xuống, ở các tỉnh, thành khác di chuyền tự đo đến quận 9 — TPHCM để sinh sống, làm việc lâu dài hoặc tạm thời gồm có đăng kí hay không đăng kí hộ khâu thường trú và đã kết hôn. - Giới Giới và giới tính là hai khái niệm có liên quan chặt chẽ với nhau.
Giới tính là một khái niệm khoa học ra đời từ môn sinh vật học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ vê 20 mặt sinh học. Như vậy, căn cứ dé xác định sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người, duy trì nòi giống. Với những đặc tính như chỉ phụ nữ mới có khả năng mang thai và sinh con, hoặc chỉ nam giới mới có khả năng sản xuất ra tinh trùng cho quá trình thụ thai, cau tạo sinh học cơ thé của phụ nữ và nam giới là khác nhau. Con người khi sinh ra về cơ bản đã có những đặc điểm về giới tính và hầu như không thay đổi trong suốt cuộc đời.
Nếu như giới tính xem xét mặt sinh học dé phân biệt nam nữ thì giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ. Khác với giới tính, giới không mang tính bâm sinh mà được hình thành trong quá trình sống, học tập của con người từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành. Theo Điều 5 của Luật Bình đăng giới 2006, khái niệm “Giới tính” và “Giới” được hiểu như sau: “Giới tính” là khái niệm chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ; “Giới” là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tat cả các mối quan hệ xã hội.
Từ cách tiếp cận này, giới được thể hiện thông qua các hành vi được hình thành từ sự dạy đỗ và thu nhận từ gia đình, cộng đồng và xã hội; là vi trí, vai trò của nam và nữ mà xã hội mong muốn, kỳ vọng ở phụ nữ và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Ví dụ như nói đến phụ nữ là gắn với các hoạt động như nội trợ, cơm nước, chợ búa, chăm sóc con cái; còn nói đến nam giới là sẽ gắn với các hoạt động đặc thù như xây dựng nhà cửa, làm kinh tế, chính trị, quản ly/lanh đạo. Những hành vi này không phải là hành vi hay kỹ năng bam sinh mà do họ được xã hội, gia đình, cộng đồng day dỗ dé làm việc đó vì xã hội cho rằng như vậy là phù hợp với thiên chức phụ nữ hoặc nam giới. Giới tính đề cập đến đặc điểm của con người do tự nhiên quy định.
Những đặc điêm này ôn định và bât biên đôi với cả nam và nữ theo không gian và thời gian. Ví dụ 21 như qua mọi hình thai xã hội, moi chế độ chính trị, thậm chí ở nền văn hóa khác nhau nhưng ở người phụ nữ khả năng mang thai và sinh con là bất biến; còn ở nam giới thì thé hiện ở chức năng sinh sản. Trong khi đó, giới thì luôn biến đổi. Các yếu tố như hoàn cảnh kinh tế, chính trị, phong tục, tập quán, tôn giáo trong từng giai đoạn lịch sử, từng quốc gia, từng vùng miền ảnh hưởng/tác động đến mức độ cao/ thấp về vị trí xã hội của phụ nữ so với nam giới.
- Vai trò giới Vai tro là một trong số những khái niệm được vận dụng rộng rãi trong Xã hội học. Dahrendorf định nghĩa vai trò là một “tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gan với hành vi của những người mang các địa vị. Khái niệm vai trò có mối quan hệ với một nhóm các khái niệm trực thuộc như là một hệ thống trong đó có khải niệm vai trò giới” (G. Ở một khía cạnh khác, vai trò giới là một trong các nội dung của khung phân tích giới (Moser, 1993).
Vai trò giới vừa là một khái niệm, vừa là một trong các công cụ được sử dụng dé phân tích tương quan giới trong gia đình và xã hội (Trần Thị Kim Xuyến, 2001: 298). Trong tài liệu của Đoàn Văn Trường và Nguyễn Thị Thanh Thúy năm 2016, vai trò giới là tập hợp những hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở phụ nữ và nam giới liên quan đến những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về đàn ông hay thuộc về đàn bà trong một xã hội hay là một nền văn hóa cụ thé nào đó.