Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về truyền thống, hiện đại và quan hệ truyền thống hiện - đại trong văn hóa dân tộc Trần Văn Giàu (2011), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam [41], dưới góc độ văn hóa, không chỉ khái quát rõ các giá trị truyền thống của con người Việt Nam, tác giả còn đưa ra quan niệm truyền thống là những “đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực cũng có thể tiêu cực” [41, tr. Ở góc độ khác, Phan Huy Lê (Chủ nhiệm, 1996), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay [82], đã đưa ra quan niệm về truyền thống là: “tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử” [82, tr.9] và cũng dưới góc nhìn lịch sử đó, tác giả đã luận giải sâu sắc về bản sắc văn hóa, đặc tính dân tộc, tâm lý của con người Việt Nam trong Di sản Văn hóa Việt Nam dưới góc nhìn lịch sử [83], do tác giả làm chủ nhệm năm 2015.
Theo tác giả, nói tới truyền thống là nói tới bản sắc văn hóa, đây là hai nội dung cốt lõi của văn hóa và bản sắc văn hóa “khi đã định hình nó trở thành truyền thống tác động ngược trở lại cộng đồng đó, trở thành một tâm lý xã hội, một nhân cách tập thể” [83, tr. Những khái quát trên giúp cho luận án có cơ sở để chỉ ra nội hàm, vai trò của truyền thống. Đỗ Huy (2013), Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển [65], đã chỉ rõ văn hóa gắn bó chặt chẽ với sự vận động của các phương thức sản xuất, là phương thức hoạt động xã hội, 11 cách thức sinh hoạt xã hội; nó mang đậm tính dân tộc, được lan tỏa trong hầu hết các quan hệ xã hội, gắn kết các hoạt động của con người, tạo nên tập quán ứng xử, xúc cảm, tín ngưỡng. Tác giả khẳng định: “Truyền thống dân tộc được đặc trưng bởi truyền thống văn hóa” [65, tr.27] và “Văn hóa gìn giữ gương mặt của dân tộc, tiếp biến các giá trị mới làm đa dạng hóa truyền thống văn hóa” [65, tr.27-28], giúp luận án khái quát truyền thống là nhân lõi của văn hóa quân nhân và truyền thống đa dạng, phong phú khi tiếp biến các giá trị văn hóa mới.
Nhiều tác giả (2014), Hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong đổi mới, hội nhập [103], đã khái quát những giá trị, hệ giá trị văn hóa phản ánh những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam cần được gìn giữ, phát huy trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay. Trong đó, đã tổng kết về các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam của Đảng và các nhà khoa học đặc trưng là phẩm chất cao quý con người Việt Nam như Đào Duy Anh cho rằng: “có trí nhớ tốt, thiên về nghệ thuật trực giác; ham học, thích văn chương; ít mộng tưởng, tính thực dụng cao; cần cù làm việc; giỏi chịu khổ; chuộng hòa bình, khi có ngộ sự biết hy sinh vì đại nghĩa; khả năng bắt chước và dung hóa rất tài”; Trần Văn Giàu cũng nêu bảy giá trị: “yêu nước; anh hùng; cần cù; sáng tạo; lạc quan; thương người; đại nghĩa”; Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII: “có lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc; lòng khoan dung; trọng nghĩa tình đạo lý; tính cần cù sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử; tính giản dị trong lối sống” [103, tr. Đồng thời, cũng đã chỉ ra những giá trị mới xuất hiện của thời đại khi có sự chuyển đổi kép của hệ giá trị văn hóa Việt Nam như dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới, hội nhập, cạnh tranh; đồng thời cũng đưa ra bộ tiêu chí hệ giá trị văn hóa phổ quát chung cho xã hội như tâm chính, ý thành, hài hòa, 12 nhân văn, tính thuận, khí hòa, thế vững, lực mạnh; đối với các nhà lãnh đạo là tâm đẹp, tầm xa, tuệ sáng, tài cao, trách nhiệm. Đây là những giá trị, phẩm chất cần được bổ sung, phát huy để quân nhân hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, là cơ sở để luận án khái quát giá trị văn hóa quân nhân từ truyền thống đến hiện đại.
Trần Văn Bính (2015), Để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh [10], đã cho rằng “Khái niệm hiện đại vốn xuất phát từ tiếng lating: Modo, nghĩa là hiện nay, là tinh thần sống liên tục trái với quá khứ” [10, tr.145] và hiện đại hóa văn hóa, con người là một xu hướng tất yếu gắn với sự thay đổi của phương thức sinh hoạt vật chất, nó diễn ra theo chiều là đi từ truyền thống đến hiện đại, hiện đại hóa trên cơ sở truyền thống vì: “Nếu truyền thống tách rời hiện đại hóa thì đó là truyền thống khép kín - nguồn gốc của sự trì trệ, lạc hậu” [10, tr.147] và “Nếu hiện đại hóa mà tách rời truyền thống thì chắc chắn xã hội sẽ bị rối loạn, mất gốc và có thể tự tan rã” [10, tr. Đây là cơ sở giúp cho luận án xây dựng khái niệm hiện đại và luận giải truyền thống, hiện đại có quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời nhau. Nguyễn Lương Bằng (2001), Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay [8], đã cho rằng hiện đại thuộc về thời đại ngày nay hoặc “khi dùng trong các lĩnh vực công nghiệp, thiết bị, công trình kiến trúc được hiểu với nghĩa có áp dụng những phát minh, những thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật ngày nay” [8, tr.34 - 35]; tùy theo các đối tượng khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về hiện đại; cái được gọi là hiện đại thường đặt trong quan hệ với truyền thống, gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể; có những yếu tố hôm nay còn là hiện đại thì mai sau có thể trở thành truyền thống. Tác giả nhấn mạnh: “trong một lĩnh vực nào đó những cái được gọi là hiện đại thường đặt trong mối quan hệ với truyền thống, gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể và là 13 những cái tiến bộ, cái mới nhất trong giai đoạn lịch sử đó” [8, tr.
Đây cũng là vấn đề được Lê Thị Hoài Thanh (2003), Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay [127] khẳng định. Theo tác giả, hiện đại là những yếu tố mới được sinh ra từ điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội mới và khi nói đến hiện đại phải “đặt nó trong mối quan hệ với truyền thống, gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể và gắn với những cái mới nhất trong giai đoạn lịch sử đó” [127, tr.27], hiện đại có tính chất thời đại, ngang tầm thời đại; hiện đại thường được gắn với tính tiên tiến “Nếu như cái truyền thống đã bắt nguồn từ quá khứ lâu dài thì cái hiện đại là hiện thân của điều kiện kinh tế - xã hội ngày hôm nay” [127, tr. Đây là khẳng định giúp luận án có cơ sở xây dựng khái niệm hiện đại và khái niệm quan hệ truyền thống - hiện đại. Nguyễn Chí Tình (2011), Xung đột văn hóa và đấu tranh văn hóa [117], trên cơ sở luận giải truyền thống văn hóa, văn hóa hiện đại đã đưa ra một số phương diện biểu hiện của xung đột, đấu tranh văn hóa như xung đột và đấu tranh về giá trị trong đó nhấn mạnh xung đột về quan niệm đối với giá trị vật chất và giá trị tinh thần; xung đột giữa bảo thủ và đổi mới (cách tân); xung đột giữa khuynh hướng duy tình và khuynh hướng duy lý.
Đây là những nhận định giúp cho luận án khẳng định quan hệ truyền thống - hiện đại là quan hệ giữa hai mặt đối lập với hai khuynh hướng trái ngược nhau. Huỳnh Công Bá (2012), Cội nguồn & bản sắc văn hóa Việt Nam [3], đã lý giải khá sâu sắc về bản sắc văn hóa, chứng minh sự tồn tại mãnh liệt của văn hóa Việt Nam trong lịch sử dân tộc. Tác giả nhấn mạnh hơn nghìn năm giao lưu tiếp xúc với hai nền văn minh lớn của phương Đông là Trung Quốc và Ấn Độ, văn hóa Việt Nam đã “tiếp biến, thâu thái những giá trị mới, làm giàu thêm và nâng cấp văn hóa Việt Nam lên một tầm cao mới” [3, tr. Tiếp tục khẳng định sức sống mãnh liệt của truyền thống văn hóa Việt Nam 14 không mất đi qua giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa, văn minh khác mà còn thâu thái các giá trị văn hóa tiên tiến, hiện đại làm giàu thêm văn hóa của mình.
Điều này được Trường Lưu (2013), Văn hóa mấy vấn đề từ giai đoạn bản lề (Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) [92] làm rõ. Theo tác giả, truyền thống văn hóa Việt Nam có khả năng tiếp thu, sàng lọc để đổi mới giữa cuộc đụng độ “cũ” và “mới” để tồn tại, không bị đồng hóa, biến dạng mà trái lại đã tiếp thu những yếu tố tinh hoa của các nền văn hóa khác qua giao lưu, tiếp biến tạo nên nền văn hóa của riêng mình ngay cả khi bị xâm lược “Ta chống sự xâm lược tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng ta tiếp thu cái tinh hoa hiện đại của văn hóa Pháp”[92, tr. Đây là những khái quát giúp luận án khẳng định truyền thống là gốc khi tiếp thu hiện đại, tiếp thu hiện đại làm cho truyền thống tươi mới trong luận giải quan hệ truyền thống - hiện đại và phát triển văn hóa quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngô Đức Thịnh (2014), Giá trị Văn hóa Việt Nam truyền thống và biến đổi [138], đã phân rõ sự khác biệt giữa truyền thống với cổ truyền và nhấn mạnh quan hệ của truyền thống với hiện đại “cái truyền thống thường gắn kết với cái hiện đại trong một thực thể văn hóa hữu cơ”; “còn cái cổ truyền phần lớn biểu hiện trong đời sống hiện đại chỉ là cái di vết, tàn dư mà thôi” [138, tr.