Chương I, các tác giả giới thiệu những vấn đề tổng quan về logistics trong nền kinh tế thị trường như khái niệm, đặc trưng, vai trò của logistics. Các 16 tác giả đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của dịch vụ logistics gồm: Chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển logistics quốc gia - chỉ tiêu LPI (Logistics Performance Index) và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động logistics của doanh nghiệp. Nhận diện một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta, theo các tác giả gồm 5 nhân tố cơ bản là: Tăng trưởng kinh tế và quy mô sản xuất kinh doanh ngày càng lớn, sự phát triển của khoa học công nghệ (KHCN), cơ sở hạ tầng để phát triển logistics, sức ép cạnh tranh, danh mục hàng hóa dịch vụ ngày một gia tăng. Chương II của cuốn sách các tác giả chủ yếu đề cập tới kinh nghiệm của một số nước về phát triển dịch vụ logistics và bài học cho Việt Nam.
Trong chương III, các tác giả phân tích thực trạng dịch vụ logistics ở nước ta hiện nay. Trong chương III, qua phân tích đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ logistics ở nước ta, các tác giả đã đưa ra những thành tựu, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, những vấn đề đặt ra trong phát triển logistics ở nước ta. Chương IV, các tác giả cuốn sách viết về yêu cầu và khả năng phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế. Theo đó những yêu cầu mang tính tổng thể về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường đối với sự phát triển logistics được đặt ra cụ thể.
Những khả năng phát triển dịch vụ logistics được các tác giả bàn đến khá đa dạng: Khả năng đầu tư về cơ sở hạ tầng phát triển dịch vụ logistics, khả năng về đào tạo nguồn nhân lực cho dịch vụ logistics, khả năng mở rộng các loại hình dịch vụ, khả năng phát triển các nhà cung cấp dịch vụ, khả năng mở rộng hệ thống logistics phạm vi quốc gia và khu vực, khả năng tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động logistics, khả năng nâng cao chất lượng và giảm chi phí logistics, khả năng hoàn thiện bộ tổ chức và quản lý hoạt động logistics. Chương V, các tác giả đề cập tới những quan điểm và giải pháp phát triển dịch vụ logistics ở nước ta. Theo đó, hệ thống giải pháp được các tác giả đưa ra ở 2 góc độ, vĩ mô và vi mô. Cuốn sách “Quản trị logistics kinh doanh” do các tác giả Nguyễn Thông Thái và An Thị Thanh Nhàn (chủ biên) [85].
Tác giả đưa ra các hình thức hậu 17 cần chủ yếu: Dịch vụ khách hàng hậu cần, vận chuyển, giao nhận hàng hóa, hoạt động dự trữ, xử lý đơn hàng, duy trì thông tin. Các hoạt động hậu cần hỗ trợ: Định vị kho hàng, lưu kho, mua hàng, bao gói. Đề cập tới tầm quan trọng của hoạt động hậu cần, các tác giả cho rằng hoạt động hậu cần giúp tiết kiệm chi phí hậu cần nói riêng và chi phí kinh doanh nói chung. Bên cạnh đó phạm vi cung ứng và phân phối của doanh nghiệp được mở rộng dưới tác động của hoạt động hậu cần.
Hậu cần có vai trò quan trọng trong việc lập chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Hậu cần làm tăng đáng kể giá trị đối với khách hàng. Hậu cần góp phần đáp ứng nhanh nhu cầu của khách hàng. Cuốn sách “Quản trị chuỗi cung ứng” [45] của Nguyễn Thành Hiếu.
Cuốn sách giới thiệu những nội dung của chuỗi cung ứng trong thế kỷ 21. Đề cập tới hoạt động giao vận tích hợp, cuốn sách mô tả tầm quan trọng của hoạt động giao vận tích hợp, giá trị, mục tiêu, cấu trúc của hoạt động giao vận tích hợp. Tác giả phân tích hệ thống vận chuyển với các nội dung chính như: Chức năng, nguyên tắc và các đối tượng tham gia hệ thống vận chuyển; quản lý hoạt động vận tải; hạ tầng giao thông; các dịch vụ vận tải: phương thức truyền thống, dịch vụ đóng gói, vận chuyển đa phương tiện, các tổ chức trung gian. Bên cạnh đó các nội dung cơ bản của quản trị chuỗi cung ứng được tác giả phân tích như: Quản trị hoạt động kho bãi, đóng gói và xếp dỡ hàng hóa trong chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bài báo “Hiện thực hóa mục tiêu kinh tế biển đảo: Cần phát triển hệ thống logistics biển” [37] của Đặng Đình Đào. Tác giả cho rằng với tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển và hoạt động ngành logistics, Việt Nam cần có những giải pháp về logistics để góp phần phát triển kinh tế biển đảo. Theo tác giả thời gian qua Việt Nam thường chỉ chú trọng phát triển giao thông đường bộ, đường biển không được quan tâm đầu tư phát triển. Đây là một trong các nguyên nhân khiến kinh tế biển đảo của Việt Nam không phát triển mạnh mẽ.
Tác giả bài báo đưa ra một số giải pháp logistics sau để góp phần phát triển bền vững kinh tế biển đảo: Cần nâng cao nhận thức và tư duy về phát triển logistics biển trong hệ 18 thống logistics quốc gia nhằm bảo đảm cho các hoạt động kinh tế biển diễn ra hiệu quả; Tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế biển đảo, bổ sung cơ chế chính sách phù hợp, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; Hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển logistics quốc gia; Tăng đầu tư cho cơ sở hạ tầng logistics biển; Có quan điểm phát triển logistics biển nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược biển quốc gia; Có chính sách đầu tư đặc biệt ra các đảo nhằm xây dựng các trung tâm logistics trên các đảo theo kinh nghiệm của Singapo; Đầu tư, xây dựng du lịch biển đảo phát triển mạnh góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về kinh tế biển đảo; Đào tạo nguồn nhân lực logistics biển cả về cơ cấu, chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển đảo. Đề tài “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” của Đặng Đình Đào [35]. Đề tài gồm 3 chương: Chương 1. Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển các dịch vụ logistics; Chương 2.
Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ logistics ở nước ta; Chương 3. Quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ. Trong chương 1 của đề tài, các tác giả đã trình bày các vấn đề về tổng quan, vai trò cũng như đặc trưng và yêu cầu cơ bản của logistics trong nền kinh tế thị trường. Tác giả cho rẳng, logistics được thực hiện từ điểm khởi nguồn của sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm bảo đảm cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng.
Về vị trí của dịch vụ logistics trong chuỗi cung ứng, tác giả cho rằng Logistics ở vị trí kết nối giữa Nhà máy - Sản xuất - Bán buôn - Bán lẻ - Khách hàng. Theo đó logistics kết nối dòng thông tin và dòng sản phẩm các khâu với nhau. Khi phân loại logistics, tác giả tiếp cận theo 6 góc độ khác nhau, đó là: Theo lĩnh vực hoạt động, theo phương thức khai thác hoạt động, theo tính chuyên môn hóa của các doanh nghiệp logistics, theo khả năng tài chính của các công ty cung cấp dịch vụ logistics, theo quá trình thực hiện, theo đối tượng hàng hóa. Mỗi góc độ phân 19 chia logistics, tác giả đều đưa ra các loại hình logistics khác nhau, khá đa dạng.
Theo tác giả, trong nền kinh tế thị trường, logistics có tám đặc trưng nổi bật, cụ thể là: logistics bao gồm các hoạt động bao trùm quá trình sản phẩm được sản xuất ra và tới tay người tiêu dùng, logistics là hoạt động thương mại mang tính liên ngành, logistics gắn liền với tất cả các khâu của sản xuất, logistics là hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp, logistics là sự phát triển cao hoàn chỉnh của hoạt động vận tải giao nhận, logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức, logistics chỉ có thể phát triển hiệu quả khi tận dụng được triệt để thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT), logistics là sự tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống. Tác giả đề cập tới nội dung phát triển các dịch vụ logistic gồm có: Phát triển các dịch vụ logistics đơn lẻ, phát triển các dịch vụ logistics trọn gói hay dịch vụ logistics Thirt Party Logistics - Logistics bên thứ ba (3PL). Về hệ thống các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển các dịch vụ logistics, tác giả cho rằng có chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển logistics quốc gia (chỉ tiêu LPI) và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động logistics của doanh nghiệp. Đề cập các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ logistics ở nước ta, tác giả cho rằng có các nhân tố chung và các nhân tố đặc thù.
Nhân tố chung bao gồm: Môi trường chính trị pháp luật, môi trường văn hóa - xã hội, môi trường kinh tế, môi trường khoa học công nghệ. Nhân tố đặc thù bao gồm: Cơ sở hạ tầng, sức ép từ cạnh tranh, danh mục hàng hóa sản xuất và tiêu thụ. Quá trình hội nhập quốc tế và mở của thị trường dịch vụ, tác giả chỉ ra những xu hướng phát triển dịch vụ logistics là: Ứng dụng CNTT, thương mại điện tử ngày càng phổ biến; Xu hướng thuê dịch vụ logistics từ các công ty logistics chuyên nghiệp hay dịch vụ logistics bên thứ ba; Phát triển sự liên kết hợp tác trong quá trình thực hiện dịch vụ logistics toàn cầu; Sự xuất hiện của dịch vụ logistics bên thứ tư và bên thứ năm (4PL và 5PL). Những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển dịch vụ logistics cũng được tác giả đề tài chỉ ra cụ thể ở nhiều khía cạnh.
Từ kinh nghiệm quốc tế trong phát triển logistics của các nước: Nhật Bản, Thái Lan, 20 Trung Quốc, Singapo, tác giả đưa ra một số bài học đối với Việt Nam. Bài học về chính sách và tăng cường vai trò của Nhà nước, bài học về phát triển cơ sở hạ tầng, bài học về phát triển nguồn nhân lực, bài học về lựa chọn lĩnh vực logistics để phát triển, bài học về phát triển các DN logistics, bài học về sự hợp tác và liên kết giữa các doanh nghiệp logistics. Nội dung Chương 2.