Tổng quan nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam. Theo các báo cáo thống kê chính thức, tỷ lệ hộ nghèo tại tỉnh Hải Dương đã ghi nhận sự chuyển biến mạnh mẽ, giảm từ mức 7,13% với 37.645 hộ nghèo năm 2012 xuống còn 5,82% với 30.955 hộ vào năm 2013 và tiếp tục giảm sâu trong năm 2014. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu vượt bậc nhờ vị trí địa lý thuận lợi thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tình trạng phân hóa giàu nghèo và nguy cơ tái nghèo tại các vùng nông thôn thuần túy của Hải Dương vẫn diễn biến phức tạp. Tình trạng thiếu vốn sản xuất, trình độ tay nghề hạn chế và rào cản bình đẳng giới khiến phụ nữ nông thôn chịu nhiều tổn thương nhất trước áp lực kinh tế.

Trước yêu cầu cấp bách đó, đề tài nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ vai trò nòng cốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải Dương đối với công tác xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2010 đến 2014. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của tổ chức phụ nữ trong hệ thống chính trị, khảo sát và phân tích thực trạng các phong trào hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, đồng thời xác định các hạn chế tồn tại để xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đến năm 2020. Luận văn đóng góp quan trọng vào kho tàng luận cứ khoa học của chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, cung cấp mô hình thực tiễn giúp Hải Dương duy trì chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 1,5% đến 2% mỗi năm và hỗ trợ trực tiếp hàng chục nghìn hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ vươn lên làm giàu chính đáng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tiến bộ xã hội, giải phóng phụ nữ và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khung nghiên cứu tích hợp hai lý thuyết trụ cột: lý thuyết phát triển xã hội bền vững và lý thuyết về nghèo đa chiều. Khái niệm nghèo đói được tiếp cận theo chuẩn quốc tế của Liên Hợp Quốc với ngưỡng tiêu dùng năng lượng tối thiểu 2.300 Kcal mỗi người mỗi ngày, kết hợp cùng chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg với mức thu nhập từ 400.000 đồng mỗi người mỗi tháng ở nông thôn và 500.000 đồng ở thành thị.

Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa bốn khái niệm trọng tâm:

  • Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa: Cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, trong đó Hội Liên hiệp Phụ nữ là đoàn thể chính trị - xã hội nòng cốt.
  • Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối: Sự phân định giữa tình trạng thiếu thốn nhu cầu sinh tồn cơ bản và sự chênh lệch mức sống so với mặt bằng chung của cộng đồng.
  • Chuẩn nghèo đa chiều: Phương pháp đo lường sự thiếu hụt dựa trên 5 chiều cơ bản gồm y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội.
  • Năng lực nội sinh của phụ nữ: Khả năng tự chủ kinh tế, quản lý vốn vay và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của hội viên phụ nữ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2006-2010 và 2010-2014 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương, cùng hệ thống văn kiện chỉ đạo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Luận văn tiến hành khảo sát toàn diện trên quy mô 12 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hải Dương với tổng số 30.955 hộ nghèo và 25.756 hộ cận nghèo năm 2013. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng theo đặc thù địa bàn: khu vực đô thị công nghiệp phát triển như thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và khu vực nông thôn đồng bằng như Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ Kỳ, Gia Lộc.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Luận văn kết hợp phương pháp phân tích định lượng, thống kê xã hội học và phương pháp lịch sử - logic. Sự kết hợp này giúp bóc tách chính xác các biến động về tỷ lệ giảm nghèo qua từng năm, đối chiếu hiệu quả giữa các mô hình hỗ trợ vốn vay vi mô, đồng thời làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa chính sách an sinh xã hội và vai trò vận động của tổ chức Hội Phụ nữ tại cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo tại Hải Dương diễn ra nhanh nhưng không đồng đều giữa các khu vực địa lý. Giai đoạn 2012-2014 ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 7,13% xuống 5,82% năm 2013 và đạt mức trung bình 4,3% vào cuối năm 2014. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các địa phương rất sâu sắc: thành phố Hải Dương có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là 1,65% vào cuối năm 2014, trong khi các huyện thuần nông như Ninh Giang chiếm tới 5,95%, Thanh Miện là 5,43%, Tứ Kỳ là 5,35% và Kim Thành là 5,32%.

Thứ hai, vai trò quản lý nguồn vốn tín dụng chính sách của Hội Liên hiệp Phụ nữ đạt hiệu quả vượt trội. Hội Phụ nữ tỉnh Hải Dương đã phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Chính sách Xã hội để quản lý dòng vốn ủy thác an toàn, góp phần vào thành tựu chung của cả nước khi dư nợ ủy thác qua Hội đạt trên 54.000 tỷ đồng cho 2.751.000 hộ vay. Tỷ lệ nợ quá hạn được kiểm soát ở mức cực thấp, giảm 0,04% và duy trì tỷ lệ hoàn trả vốn đạt 99%, khẳng định kỷ luật tài chính nghiêm túc của hội viên.

Thứ ba, tỷ lệ tái nghèo và phát sinh nghèo mới trong giai đoạn trước vẫn ở mức báo động. Điển hình trong giai đoạn 2006-2010, toàn tỉnh có 23.994 hộ thoát nghèo nhưng lại phát sinh tới 9.808 hộ tái nghèo hoặc nghèo mới. Nhiều xã nông thôn có tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 1,7 đến 2,5 lần mức bình quân toàn tỉnh, như xã Thống Kênh huyện Gia Lộc chiếm 24,28%, xã Kênh Giang thị xã Chí Linh chiếm 24,09% và xã Đồng Quang huyện Gia Lộc chiếm 19,33%.

Thứ tư, các phong trào nội lực tạo ra nguồn vốn tự có khổng lồ. Phong trào thực hành tiết kiệm theo gương Bác đã thu hút 73,5% tổng số hội viên tham gia, tạo ra nguồn vốn tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng, giúp hàng trăm nghìn lượt phụ nữ vay vốn quay vòng để phát triển kinh tế gia đình và học nghề.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh rõ nét tác động của cơ cấu kinh tế địa phương. Những huyện nằm trên trục Quốc lộ 5 như Cẩm Giàng, Nam Sách và thành phố Hải Dương có tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh (Cẩm Giàng chỉ còn 3,14% năm 2014) nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nữ. Ngược lại, khu vực phía nam tỉnh phụ thuộc lớn vào nông nghiệp truyền thống nên dễ bị tổn thương khi gặp thiên tai, dịch bệnh.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ nghèo đầu năm và cuối năm 2014 tại 12 huyện thị, kết hợp cùng bản đồ phân tầng không gian về mật độ hộ nghèo cấp xã. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý thấy rõ mối liên hệ giữa hạ tầng giao thông và chỉ số phát triển con người. Khi so sánh với xu hướng tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn 2015-2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nghiên cứu khẳng định rằng việc chỉ cung cấp vốn là chưa đủ. Hội Phụ nữ cần mở rộng hỗ trợ về thông tin, đào tạo kỹ năng số và bảo hiểm y tế để ngăn chặn nguy cơ tái nghèo tận gốc rễ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới công tác tuyên truyền và xây dựng văn hóa tiết kiệm tự nguyện. Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tại Hải Dương cần triển khai đợt sinh hoạt chuyên đề định kỳ hàng quý, hướng tới mục tiêu 100% chi hội duy trì mô hình nuôi heo đất và tổ hùn vốn; phấn đấu mỗi hội viên tiết kiệm tối thiểu 100.000 đồng mỗi tháng. Timeline thực hiện liên tục từ năm 2016 đến năm 2018 do Ban Tuyên giáo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh chủ trì.

Thứ hai, tối ưu hóa quy trình ủy thác và mở rộng dư nợ vốn vay ưu đãi. Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội Hải Dương phấn đấu tăng trưởng dư nợ ủy thác từ 10% đến 15% mỗi năm trong giai đoạn 2016-2020; cam kết duy trì tỷ lệ nợ quá hạn dưới 0,05% thông qua việc kiểm tra chéo 100% tổ tiết kiệm và vay vốn tại các xã có nguy cơ cao.

Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn liền với chuỗi giá trị nông sản. Trung tâm Dạy nghề Hội Phụ nữ tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho tối thiểu 15.000 lao động nữ nông thôn mỗi năm trong giai đoạn 2017-2020; đảm bảo trên 80% học viên sau đào tạo có việc làm ổn định hoặc tự mở rộng quy mô kinh tế hộ gia đình.

Thứ tư, thúc đẩy lồng ghép bình đẳng giới và hỗ trợ nữ chủ hộ khởi nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương phối hợp với các ban ngành liên quan xây dựng cơ chế hỗ trợ thành lập ít nhất 50 tổ hợp tác và hợp tác xã do phụ nữ làm chủ trong giai đoạn 2016-2020, tạo đòn bẩy pháp lý và nguồn lực để phụ nữ làm chủ kinh tế bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ và các đoàn thể chính trị - xã hội: Tiếp thu các mô hình quản lý vốn vay vi mô, kinh nghiệm vận động hội viên thực hành tiết kiệm và quy trình thành lập các tổ phụ nữ giúp nhau làm kinh tế tại địa bàn nông thôn.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội: Sử dụng các số liệu thực chứng về phân hóa nghèo đói theo vùng địa lý tại Hải Dương để xây dựng các chính sách giảm nghèo đa chiều có trọng tâm, giảm tải gánh nặng ngân sách.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học: Khai thác khung lý luận chuyên sâu về vai trò của các tổ chức quần chúng trong hệ thống chính trị và phương pháp phân tích định lượng trong nghiên cứu xã hội học.
  • Các tổ chức tài chính vi mô và tổ chức phi chính phủ: Tham khảo bài học thực tiễn về cơ chế kiểm soát rủi ro tín dụng ủy thác, đảm bảo tỷ lệ hoàn trả vốn đạt 99% tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Vai trò nổi bật nhất của Hội Liên hiệp Phụ nữ Hải Dương trong công tác giảm nghèo là gì? Hội đóng vai trò cầu nối tài chính và tổ chức xã hội then chốt. Bằng việc ủy thác nguồn vốn chính sách và phát động phong trào tiết kiệm, Hội đã giúp hàng chục nghìn hộ nghèo tiếp cận vốn lãi suất thấp, đạt tỷ lệ hoàn trả 99% và đào tạo nghề cho hàng nghìn lao động nữ nông thôn mỗi năm.

Tại sao có sự chênh lệch tỷ lệ hộ nghèo lớn giữa các huyện tại Hải Dương năm 2014? Sự chênh lệch xuất phát từ lợi thế địa kinh tế. Các địa bàn như thành phố Hải Dương (1,65%) và Cẩm Giàng (3,14%) nằm trên Quốc lộ 5 phát triển mạnh công nghiệp dịch vụ, trong khi Ninh Giang (5,95%) hay Thanh Miện (5,43%) thuần nông nghiệp, thiếu tư liệu sản xuất và thị trường tiêu thụ.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tái nghèo tại địa phương là gì? Nguyên nhân cốt lõi là sự thiếu hụt kiến thức sản xuất, chi phí y tế phát sinh khi ốm đau và biến động giá nông sản. Trong giai đoạn 2006-2010, toàn tỉnh ghi nhận tới 9.808 hộ tái nghèo và nghèo mới do thiếu các giải pháp hỗ trợ sinh kế bền vững đi kèm nguồn vốn.

Mô hình tiết kiệm nội lực của Hội Phụ nữ mang lại giá trị thực tế như thế nào? Phong trào thực hành tiết kiệm huy động được trên 73,5% hội viên tham gia, tạo nguồn vốn quay vòng tại chỗ hàng nghìn tỷ đồng. Nguồn vốn này giúp hội viên nghèo vay không lãi suất để mua con giống, vật tư nông nghiệp mà không cần thế chấp tài sản.

Chuẩn nghèo đa chiều áp dụng từ năm 2015 đặt ra thách thức gì cho Hội Phụ nữ? Chuẩn nghèo đa chiều yêu cầu Hội không chỉ tập trung nâng cao thu nhập mà phải hỗ trợ hội viên tiếp cận đủ 5 chiều dịch vụ cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin, đòi hỏi tổ chức Hội phải đa dạng hóa hoạt động can thiệp xã hội.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh vai trò không thể thay thế của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hải Dương trong việc thực thi chính sách an sinh xã hội tại cơ sở.
  • Phản ánh trung thực thực trạng giảm nghèo nhanh từ 7,13% năm 2012 xuống 5,82% năm 2013 nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo tại các vùng thuần nông.
  • Khẳng định tính ưu việt của mô hình tín dụng ủy thác kết hợp phong trào tiết kiệm tự nguyện với tỷ lệ hoàn vốn đạt 99%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về đào tạo nghề, vốn vay và bình đẳng giới với lộ trình triển khai chi tiết giai đoạn 2016-2020.
  • Đóng góp nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao cho chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học và công tác quản lý an sinh xã hội thực tiễn.

Công cuộc giảm nghèo bền vững đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị. Các cấp lãnh đạo, cán bộ đoàn thể và nhà nghiên cứu hãy cùng khai thác các luận cứ khoa học từ công trình này để tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện trong giai đoạn mới.