phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương, 8 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VÀ QUAN NIỆM VỀ VAI TRÕ CỦA GIAI CẤP NÀY TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƢỚC 1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM Từ nửa đầu thế kỷ XIX, với hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, một lực lượng xã hội mới được hình thành trong lòng xã hội Việt Nam, đó là giai cấp công nhân. Với tư cách là một giai cấp trong xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời đã đánh dấu bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc.
Đặc biệt, từ khi có Đảng ra đời, giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng Cộng sản đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh và ngày càng phát huy vai trò to lớn của mình. Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam, như Văn kiện Hội nghị Trung ương sáu khóa X, xác định là "một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [20, tr. Tình hình chung của lực lượng xã hội này được nhận diện từ các mặt cơ bản sau đây: Về số lượng, từ Đại hội VIII (1996) Đảng và Nhà nước khẳng định, nước ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ công nghiệp phát triển mạnh mẽ, là cơ sở để giai cấp công nhân tăng lên không ngừng.
Nếu như 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 1986 số lượng công nhân là 4.000 người, sau mười năm đổi mới tăng lên 4.900 người, đến năm 2000 đã tăng lên 6.000 người, đến năm 2005 là 8.000 người, năm 2007 là 9,5 triệu người [31, tr. Điều đó cho thấy, từ khi thực hiện đường lối đổi mới cho đến nay, số lượng công nhân tăng lên không ngừng, chiếm tỉ lệ ngày càng lớn trong lực lượng lao động xã hội (21% năm 2007). Số lượng công nhân tăng lên vượt bậc, tạo điều kiện để giai cấp công nhân nâng cao vị trí, vai trò của mình trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Tuy vậy, số lượng công nhân nước ta còn rất ít, còn xa mới đạt đến tiêu chí của một nước công nghiệp.
Do vậy từ nay đến năm 2020, chúng ta phấn đấu hoàn thành sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để nước ta cơ bản trở thành một quốc gia công nghiệp, trong đó cơ cấu lao động công nhân chiếm khoảng 70%. Trong công cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự tăng lên về số lượng, chất lượng của giai cấp công nhân cũng không ngừng phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Chất lượng của giai cấp công nhân được thể hiện trên những điểm chủ yếu sau: Đảng và Nhà nước coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, không ngừng quan tâm và tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhờ đó trình độ học vấn của công nhân được nâng lên một bước. Theo số liệu, tỷ lệ công nhân có học vấn phổ thông trung học năm 1985 là 42,5%, đến năm 2000, tỷ lệ này là 62,2% và hiện nay là 69,3% [2, tr.
Cùng với những chuyển biến tích cực đó, tỷ lệ công nhân không biết chữ và chưa tốt nghiệp cấp I giảm đi. Nếu như năm 1996 tỷ lệ này là 5,1%, thì năm 2005 giảm còn 3,5%. Tỷ lệ công nhân lao động tốt nghiệp cấp III tăng lên, năm 1996 là 56%, đến năm 2005 tăng lên 82,4%. Số công nhân tốt nghiệp cao 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đẳng, đại học cũng không ngừng tăng lên và ra nhập ngày càng đông đảo vào giai cấp công nhân.
Trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của giai cấp công nhân cũng không ngừng được nâng cao. Số công nhân chưa qua đào tạo giảm từ 46,7% năm 1996, xuống còn 25,1% năm 2005. Trong khi công nhân kỹ thuật được đào tạo có bằng cấp tăng từ 8,41% năm 1996, lên 11,83% năm 2005. Chỉ tính riêng công tác dạy nghề giai đoạn 2001-2006 đã đào tạo cho khoảng 6,6 triệu người, tăng bình quân hàng năm là 6,5%.
Trong đó dạy nghề dài hạn đạt 1,14 triệu người, tăng bình quân 15%/năm; riêng năm 2006 là 260 ngàn người, tăng 2 lần so với năm 2001. Quy mô dạy nghề trong những năm qua tăng nhanh, do vậy, tỷ lệ công nhân lao động qua đào tạo nghề từ 13,4% năm 2001, tăng lên khoảng 20% năm 2006 [31, tr. Hiện nay, trình độ chuyên môn nghề nghiệp của công nhân trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, có trình độ cao đẳng, đại học trở lên khoảng 19,1%, công nhân chưa qua đào tạo khoảng 17%. Công ty cổ phần có tỷ lệ công nhân có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 27,9%, doanh nghiệp nhà nước là 24,3%, hợp tác xã là 20%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 14,3%.
Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa qua đào tạo nghề chiếm tỷ lệ cao nhất (30,6%), sau đó là hợp tác xã (18,2%). Công nhân ngành thương mại, dịch vụ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (31,5%), sau đó là ngành xây dựng, giao thông - vận tải (28,2%) thấp nhất là ngành dệt may, giầy da (9,4%). Xét theo giới tính, nam giới có trình độ cao đẳng, đại học cao hơn nữ giới (nam: 22,2%, nữ: 17%). Xét theo độ tuổi, công nhân ở độ tuổi 30- 40 có trình độ đào tạo chiếm tỷ lệ cao hơn các độ tuổi khác.
Số chưa qua đào tạo nghề hoặc có trình độ đào tạo thấp tập trung độ tuổi dưới 30 [3, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đã phát triển nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn và các ngành công nghiệp hiện đại, đưa đến sự ra đời của bộ phận công nhân tri thức. Bộ phận này đang ngày càng lớn mạnh, trở thành hạt nhân của giai cấp công nhân Việt Nam, giữ vai trò quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế- xã hội đất nước. Như vậy, trình độ học vấn, trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đang được nâng lên, là nhân tố quan trọng để giai cấp công nhân nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của mình đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đồng thời dần đáp ứng yêu cầu cấp thiết của công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề của công nhân còn nhiều bất cập, mất cân đối. Bộ phận công nhân có trình độ tay nghề cao tập trung chủ yếu ở các trung tâm công nghiệp lớn, ở các ngành công nghiệp mũi nhọn. Trong khi ở các tỉnh thành xa trung tâm, các ngành công nghiệp như dệt may, giầy da, lâm nghiệp, chế biến nông, lâm, thủy sản.
lại thiếu nghiêm trọng bộ phân công nhân này. Và ngay cả ở những trung tâm công nghiệp lớn, những nghành công nghiệp mũi nhọn cũng đang thiếu trầm trọng bộ phận công nhân lành nghề, có trình độ. Số công nhân làm không đúng với ngành nghề tương đối cao (khoảng 75.8%) là sự lãng phí về nguồn nhân lực và hạn chế phát huy khả năng cũng như lòng say mê nghề nghiệp của công nhân. Cùng với sự phát triển của đất nước, tính giác ngộ giai cấp và ý thức chính trị của giai cấp công nhân từng bước được nâng lên.
Công nhân ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình đối với công cuộc đổi mới đất nước, đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Công nhân nhận thức ngày 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com càng sâu sắc hơn về các vấn đề chính trị- xã hội. Họ không chỉ quan tâm đến việc làm, thu nhập mà đã quan tâm cả đến những định hướng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Một bộ phận công nhân có trình độ hiểu biết sâu rộng, đã tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội, tham gia vào phản biện các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Theo số liệu, có tới 91,4% công nhân khẳng định quan tâm tới các vấn đề chính trị- xã hội ở địa phương; 87,4% công nhân cho rằng “vị trí của giai cấp công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; 89% công nhân cho rằng Công đoàn là tổ chức chính trị- xã hội có chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Có 68,8% công nhân được giới thiệu bộ Luật Lao động; 49,9% công nhân được giới thiệu Luật Công đoàn; 34,1% công nhân được giới thiệu Luật Doanh nghiệp [3, tr. Nhìn chung, sự giác ngộ giai cấp, ý thức chính trị và hiểu biết pháp luật của giai cấp công nhân có những bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, dưới tác động của mặt trái kinh tế thị trường; sự phân hóa về lao động giữa các khu vực kinh tế, giữa các vùng miền trong cả nước, giữa các khu công nghiệp, khu chế xuất trọng điểm với các khu công nghiệp, khu chế xuất lân cận…dẫn đến sự không đồng đều về trình độ nhận thức xã hội, giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
Do đó, cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát huy vai trò, tính tiên phong của giai cấp Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước.