Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án (19 trang). Chương 2: Di tích Giồng Lớn: Đặc trưng và niên đại (69 trang). Chương 3: Vị trí di tích Giồng Lớn trong giai đoạn chuyển tiếp Tiền Óc Eo - Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ (53 trang). Ngoài ra, Luận án còn có các mục: Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Tài liệu tham khảo và Phụ lục minh hoạ.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu văn hóa Óc Eo 1. Những di tích thuộc nền văn hóa Óc Eo được phát hiện từ khá sớm, với các địa điểm như Ba Thê (1879), Vĩnh Hưng (1917), Cạnh Đền (1923), Thành Mới (1937), Gò Thành (1941) [Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, 1995, tr.
Tuy nhiên, dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Óc Eo là năm 1944, với cuộc khai quật quy mô của L.Malleret tại khu di tích Óc Eo – Ba Thê. Kết quả của cuộc khai quật này cũng như của các hoạt động sưu tầm, khảo sát của ông trên khắp Nam Bộ được công bố trong công trình đồ sộ “Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long” gồm 4 tập, trong đó 3 tập đầu đề cập đến vùng được ông gọi là Transbassac (tương đương với Tây Nam Bộ ngày nay), còn tập 4 nói về các di tích ở Cisbassac (tương đương miền Đông Nam Bộ và một phần Đông Nam Campuchia). Công trình của Malleret đã cung cấp cho chúng ta tư liệu về một bộ sưu tập hiện vật quý giá, cùng với đó là các chỉ dẫn có ý nghĩa khoa học to lớn, như: có hai giai đoạn văn hóa khác nhau, trong đó giai đoạn sớm ứng với nhà nước Phù Nam và giai đoạn sau ứng với Chân Lạp; dấu vết của một “tiền cảng thị” ở Nền Chùa; diện phân bố rộng lớn của văn hóa Óc Eo; niên đại ra đời và sự sụp đổ đột ngột của nền văn hóa này [Hà Văn Tấn, 2002, tr. Sau Malleret, việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo bị gián đoạn một thời gian dài bởi chiến tranh.
Từ sau năm 1975, việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo mới được tiếp tục trở lại, gắn liền với hoạt động khoa học của các nhà khảo cổ học Việt Nam. Cùng với việc hệ thống hóa nguồn tài liệu và khảo sát lại những di tích đã phát hiện từ trước 1975, các nhà khảo cổ Việt Nam còn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát hiện và khai quật thêm hàng loạt các di tích mới thuộc văn hóa Óc Eo trên địa bàn các tỉnh: Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Hà Tiên. Cho đến nay, số lượng di tích văn hóa Óc Eo là 89, phân bố trên hầu khắp các tỉnh Nam Bộ, thậm chí cả ở Lâm Đồng [Lê Xuân Diệm và nnk. Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về văn hóa Óc Eo được tổ chức, trong đó phải kể đến 3 cuộc hội thảo lớn, đó là: Hội thảo "Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long" tổ chức năm 1983 tại Long Xuyên (An Giang), Hội thảo "Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam" tổ chức năm 2004 tại TP.
Hồ Chí Minh, và Hội thảo "Văn hóa Óc Eo - nhận thức và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị di tích" tổ chức năm 2009 tại An Giang. Cùng với đó, những công trình khoa học quan trọng về văn hóa Óc Eo cũng được công bố hoặc xuất bản, tiêu biểu như cuốn "Văn hóa Óc Eo: Những khám phá mới" của Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn và Võ Sĩ Khải xuất bản năm 1995, Luận án Tiến sĩ của Đào Linh Côn về "Mộ táng trong văn hóa Óc Eo" bảo vệ năm 1995, hay Luận án Tiến sĩ của Lê Thị Liên về "Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thể kỷ X" và Luận án Tiến sĩ của Bùi Phát Diệm về "Các di tích văn hóa Óc Eo ở Long An" cùng bảo vệ trong năm 2003. Tóm lại, trải qua 70 năm nghiên cứu (tính từ năm 1944), những đặc trưng của văn hóa Óc Eo đã dần được làm rõ: - Về diện phân bố: có không gian phân bố rất rộng, từ lưu vực sông Hậu, sông Tiền đến lưu vực Vàm Cỏ - Đồng Nai. Cư dân văn hóa Óc Eo cư trú trên các tiểu vùng sinh thái khác nhau: tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, ven biển Tây Nam Bộ, hạ lưu sông Tiền, Đông Nam Bộ và khu vực rừng ngập mặn ven biển Đông Nam Bộ.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Về di tích: gồm có nhiều loại hình di tích khác nhau, như di chỉ cư trú, di chỉ kiến trúc tôn giáo, di tích mộ táng, di chỉ xưởng, đặc biệt là sự có mặt của các khu di tích lớn với tính chất phức hợp, có vai trò như là những trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáo và nghệ thuật như Gò Tháp, Óc Eo, Gò Thành. Bên trong và xung quanh các khu di tích này có các khu vực cư trú và sản xuất mang tính chất vệ tinh. Về mộ táng, bên cạnh truyền thống mộ huyệt đất và mộ vò, đã xuất hiện dấu hiệu của truyền thống táng tục mới: hỏa táng (Gò Tháp, Óc Eo). Có các công xưởng sản xuất (Óc Eo, Nhơn Thành, Gò Tháp) làm ra các loại hình di vật chịu ảnh hưởng ngoại lai: đồ trang sức làm từ thủy tinh, kim loại, đá bán quý, các tác phẩm điêu khắc tôn giáo v.
- Về di vật: cực kì phong phú và đa dạng về loại hình và chất liệu, đặc biệt là sự có mặt khá phổ biến của các loại chất liệu mới như vàng, bạc, chì- thiếc. Có nhiều di vật thể hiện ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng mới, đặc biệt là các tác phẩm điêu khắc (tượng thờ, linh vật, các lá vàng). Xuất hiện nhiều di vật ngoại lai (hạt chuỗi, bùa đeo, tiền tệ). Trong đồ gốm cũng xuất hiện loại hình và chất liệu mới, ví dụ như loại gốm vẽ màu đen đỏ và gốm graffiti giống với Ấn Độ, xuất hiện loại gốm mịn, sét lọc kĩ, pha cát mịn, dùng để làm các loại hình như kendi, cốc, chân đèn, nắp đậy.
Đây là những loại hình khác lạ với đồ gốm truyền thống ở lưu vực sông Đồng Nai và nam Đông Dương [Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, 1995], [Nguyễn Thị Hậu, 2012], [Lê Thị Liên, 2015a]. Từ đó có thể nhận thấy Óc Eo là một xã hội phát triển mạnh về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là giao lưu trên biển. Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều câu hỏi về nền văn hóa này cần phải giải đáp, mà nổi lên trong số đó là vấn đề nguồn gốc. Dưới đây tôi xin điểm lại những ý kiến đáng chú ý về nguồn gốc của văn hóa Óc Eo.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vấn đề quá trình hình thành của văn hóa Óc Eo Tuy chưa được để tâm đúng mức nhưng vấn đề nguồn gốc văn hóa Óc Eo đã ít nhiều được bàn đến trong các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước. Dưới đây là một số quan điểm của các học giả trong nước và quốc tế về vấn đề này. Các học giả nước ngoài Học giả nước ngoài đầu tiên bàn về vấn đề này chính là L.Malleret, người đã khai quật di tích Óc Eo và định danh cho nền văn hóa cổ này.
Trong công trình đồ sộ Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long, ở tập III, chương XX, ông có dành đôi dòng để bàn về nguồn gốc của văn hóa Óc Eo. Dựa trên sự có mặt của các loại hiện vật thuộc giai đoạn sớm như rìu, đục, vòng tay bằng đá, một số đồ đựng bằng gốm và rìu đồng, giáo đồng. thu thập được ở Óc Eo - Ba Thê, Đá Nổi, Núi Sập., ông cho rằng Óc Eo được hình thành vào giai đoạn cuối của của thời đá mới - kim khí. Theo Malleret, văn hóa Óc Eo là kết tinh của những yếu tố bản xứ và ngoại lai, trong đó ảnh hưởng ngoại lai đã xâm nhập vào đất này dần dần, không thông qua vũ lực, trước hết dưới hình thức thúc đẩy kinh tế, không vấp phải một sự phản ứng đáng kể nào của dân địa phương, do đó nó khá sâu sắc và liên tục.
Tuy nhiên, theo cách diễn giải của Malleret thì yếu tố ngoại sinh là quan trọng, là tác nhân chủ yếu đưa đến sự phát triển của văn hóa Óc Eo. Cụ thể hơn, ông cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa bản xứ và văn hóa ngoại lai là quan hệ lệ thuộc, trong đó văn hóa ngoại lai là văn hóa thống trị, còn văn hóa bản địa là văn hóa phụ thuộc [Malleret L. Sau Malleret, hầu như không có học giả nước ngoài nào bàn về nguồn gốc văn hóa Óc Eo một cách trực tiếp. Thay vào đó, vấn đề này được nhắc tới một cách gián tiếp trong các công trình nghiên cứu về vương quốc Phù Nam 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và lịch sử Đông Nam Á cổ đại.
Trong các công trình đó, cũng như Malleret, phần lớn các học giả nước ngoài đều cho rằng sự ra đời của vương quốc Phù Nam hay các quốc gia Ấn hóa khác ở Đông Nam Á chính là sự hình thành các vùng đất thực dân của người Ấn Độ.Majumdar, một học giả người Ấn, trong công trình Ancient Indian Colonization in South-East Asia, đã cho rằng có một số lượng lớn người Ấn Độ đến định cư ở Đông Nam Á, và chính những cư dân này đã thống trị Phù Nam cũng như những trung tâm văn minh sớm khác ở khu vực này [Majumdar R. Hay như Coedes, một học giả Pháp, trong cuốn sách The Indianized States of Southeast Asia, đã phát biểu rằng các cư dân ở Đông Nam Á vẫn ở trình độ Đá mới hậu kì trước khi tiếp xúc với văn hóa Bà la môn và Phật giáo của Ấn Độ. Và do đó, mọi thành tựu văn minh mà khu vực này đạt được đều nhờ tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, còn các cư dân bản xứ chỉ đóng vai trò tiếp nhận một cách thụ động [Coedes G. Trên đây là quan điểm phổ biến trong giới sử học phương Tây khi nhìn nhận về những nền văn minh sớm ở Đông Nam Á, vốn thịnh hành từ đầu thế kỷ XX cho tới những năm 1970.
Tuy nhiên, không phải không có những tiếng nói khác trong học giới.