Di tích Giồng Lớn và vai trò của nó trong sự hình thành văn hóa Óc Eo ở Đông Nam Bộ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu di tích giồng lớn và vai trò của nó với sự hình thành văn hoá óc eo ở vùng ven biển đông nam bộ, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Khảo cổ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

332
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG CHÍNH VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG PHỤ LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA TRONG PHỤ LỤC

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ trong chính văn

Danh mục các bảng, biểu đồ trong phụ lục

Danh mục các hình ảnh minh họa trong phụ lục

1. Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu văn hóa Óc Eo

1.2. Vấn đề quá trình hình thành văn hóa Óc Eo

1.3. Di tích Giồng Lớn và những vấn đề đặt ra cho luận án

1.4. Tiểu kết chương 1

2. Chương 2: DI TÍCH GIỒNG LỚN: ĐẶC TRƯNG VÀ NIÊN ĐẠI

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên vùng ven biển Đông Nam Bộ

2.2. Vị trí địa lý - cảnh quan di tích Giồng Lớn

2.3. Các hố khai quật và diễn biến địa tầng

2.4. Niên đại và đặc trưng văn hóa

2.5. Tiểu kết chương 2

3. Chương 3: VỊ TRÍ DI TÍCH GIỒNG LỚN TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP TIỀN ÓC EO - ÓC EO Ở VÙNG VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ

3.1. Với các di tích lưu vực sông Đồng Nai

3.2. Với các di tích lưu vực sông Vàm Cỏ

3.3. Với các di tích châu thổ sông Cửu Long

3.4. Với các di tích ven biển Đông Nam Bộ

3.5. Với các khu vực khác

3.6. Phác dựng quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ

3.7. Tiểu kết chương 3

Danh mục các công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án

Tài liệu tham khảo

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về di tích Giồng Lớn và văn hóa Óc Eo

Di tích Giồng Lớn là một trong những di tích quan trọng nhất trong nghiên cứu văn hóa Óc Eo ở vùng Đông Nam Bộ. Nằm trên đảo Long Sơn, di tích này không chỉ mang giá trị khảo cổ học mà còn là minh chứng cho sự phát triển của nền văn hóa cổ đại tại khu vực này. Văn hóa Óc Eo, với những đặc trưng riêng biệt, đã hình thành và phát triển từ những thế kỷ trước Công nguyên, phản ánh sự giao thoa văn hóa giữa các nền văn minh trong khu vực Đông Nam Á.

1.1. Di tích Giồng Lớn Đặc điểm và giá trị lịch sử

Di tích Giồng Lớn được phát hiện vào năm 2002, với nhiều hiện vật quý giá được khai quật. Các nghiên cứu cho thấy đây là một di tích mộ táng có niên đại từ thời kỳ đầu của văn hóa Óc Eo. Những hiện vật như đồ gốm, đồ kim loại và các loại hình nghệ thuật khác đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về đời sống và tín ngưỡng của cư dân thời kỳ này.

1.2. Văn hóa Óc Eo Nguồn gốc và sự phát triển

Văn hóa Óc Eo được coi là một trong những nền văn hóa lớn của Việt Nam, với sự phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ ba sau Công nguyên. Nền văn hóa này không chỉ phản ánh sự phát triển kinh tế mà còn là sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc trong khu vực. Các di tích khảo cổ học cho thấy sự phong phú về mặt văn hóa và nghệ thuật của cư dân Óc Eo.

II. Những thách thức trong việc bảo tồn di tích Giồng Lớn

Di tích Giồng Lớn đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Sự phát triển đô thị hóa, khai thác tài nguyên và biến đổi khí hậu đang đe dọa đến sự tồn tại của di tích này. Việc bảo tồn không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chức năng mà còn cần sự tham gia của cộng đồng địa phương.

2.1. Tác động của đô thị hóa đến di tích

Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế tại khu vực ven biển Đông Nam Bộ đã dẫn đến việc xây dựng nhiều công trình mới, gây áp lực lên di tích Giồng Lớn. Việc này không chỉ làm giảm diện tích đất đai mà còn ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên xung quanh di tích.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến di tích

Biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, như lũ lụt và xói mòn bờ biển, ảnh hưởng trực tiếp đến di tích Giồng Lớn. Các nghiên cứu cho thấy, nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời, di tích này có thể bị mất mát vĩnh viễn.

III. Phương pháp bảo tồn di tích Giồng Lớn hiệu quả

Để bảo tồn di tích Giồng Lớn, cần áp dụng các phương pháp bảo tồn hiện đại kết hợp với việc nâng cao nhận thức cộng đồng. Các biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ di tích mà còn phát huy giá trị văn hóa của nó trong đời sống hiện đại.

3.1. Nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di tích

Giáo dục cộng đồng về giá trị văn hóa và lịch sử của di tích Giồng Lớn là rất quan trọng. Các chương trình tuyên truyền, hội thảo và hoạt động văn hóa có thể giúp người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo tồn di tích.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong bảo tồn di tích

Sử dụng công nghệ hiện đại như GIS và 3D modeling có thể giúp trong việc quản lý và bảo tồn di tích Giồng Lớn. Những công nghệ này không chỉ giúp theo dõi tình trạng di tích mà còn hỗ trợ trong việc nghiên cứu và phục hồi các hiện vật.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu di tích Giồng Lớn

Nghiên cứu di tích Giồng Lớn không chỉ mang lại giá trị lịch sử mà còn có thể ứng dụng vào việc phát triển du lịch văn hóa. Việc khai thác giá trị văn hóa của di tích có thể tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương và nâng cao ý thức bảo tồn.

4.1. Phát triển du lịch văn hóa từ di tích

Di tích Giồng Lớn có tiềm năng lớn trong việc phát triển du lịch văn hóa. Các tour du lịch có thể được thiết kế để giới thiệu về lịch sử và văn hóa của di tích, thu hút du khách trong và ngoài nước.

4.2. Tạo nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương

Việc phát triển du lịch xung quanh di tích Giồng Lớn có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương. Các dịch vụ như hướng dẫn viên du lịch, bán hàng lưu niệm và ẩm thực địa phương có thể mang lại nguồn thu nhập ổn định.

V. Kết luận và tương lai của di tích Giồng Lớn

Di tích Giồng Lớn đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo và lịch sử vùng Đông Nam Bộ. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích này không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan chức năng mà còn cần sự tham gia tích cực của cộng đồng. Tương lai của di tích phụ thuộc vào những nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững.

5.1. Tầm quan trọng của di tích trong nghiên cứu văn hóa

Di tích Giồng Lớn không chỉ là một địa điểm khảo cổ mà còn là một phần quan trọng trong bức tranh tổng thể về văn hóa Óc Eo. Nghiên cứu di tích giúp làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của lịch sử và văn hóa khu vực.

5.2. Hướng đi tương lai cho di tích Giồng Lớn

Tương lai của di tích Giồng Lớn cần được định hình bởi các chiến lược bảo tồn hiệu quả và sự tham gia của cộng đồng. Các chương trình hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu, chính quyền địa phương và cộng đồng sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của di tích.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ di tích giồng lớn và vai trò của nó với sự hình thành văn hoá óc eo ở vùng ven biển đông nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án (19 trang). Chương 2: Di tích Giồng Lớn: Đặc trưng và niên đại (69 trang). Chương 3: Vị trí di tích Giồng Lớn trong giai đoạn chuyển tiếp Tiền Óc Eo - Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ (53 trang). Ngoài ra, Luận án còn có các mục: Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Tài liệu tham khảo và Phụ lục minh hoạ.

7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu văn hóa Óc Eo 1. Những di tích thuộc nền văn hóa Óc Eo được phát hiện từ khá sớm, với các địa điểm như Ba Thê (1879), Vĩnh Hưng (1917), Cạnh Đền (1923), Thành Mới (1937), Gò Thành (1941) [Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, 1995, tr.

Tuy nhiên, dấu mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Óc Eo là năm 1944, với cuộc khai quật quy mô của L.Malleret tại khu di tích Óc Eo – Ba Thê. Kết quả của cuộc khai quật này cũng như của các hoạt động sưu tầm, khảo sát của ông trên khắp Nam Bộ được công bố trong công trình đồ sộ “Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long” gồm 4 tập, trong đó 3 tập đầu đề cập đến vùng được ông gọi là Transbassac (tương đương với Tây Nam Bộ ngày nay), còn tập 4 nói về các di tích ở Cisbassac (tương đương miền Đông Nam Bộ và một phần Đông Nam Campuchia). Công trình của Malleret đã cung cấp cho chúng ta tư liệu về một bộ sưu tập hiện vật quý giá, cùng với đó là các chỉ dẫn có ý nghĩa khoa học to lớn, như: có hai giai đoạn văn hóa khác nhau, trong đó giai đoạn sớm ứng với nhà nước Phù Nam và giai đoạn sau ứng với Chân Lạp; dấu vết của một “tiền cảng thị” ở Nền Chùa; diện phân bố rộng lớn của văn hóa Óc Eo; niên đại ra đời và sự sụp đổ đột ngột của nền văn hóa này [Hà Văn Tấn, 2002, tr. Sau Malleret, việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo bị gián đoạn một thời gian dài bởi chiến tranh.

Từ sau năm 1975, việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo mới được tiếp tục trở lại, gắn liền với hoạt động khoa học của các nhà khảo cổ học Việt Nam. Cùng với việc hệ thống hóa nguồn tài liệu và khảo sát lại những di tích đã phát hiện từ trước 1975, các nhà khảo cổ Việt Nam còn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát hiện và khai quật thêm hàng loạt các di tích mới thuộc văn hóa Óc Eo trên địa bàn các tỉnh: Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Cà Mau, Hà Tiên. Cho đến nay, số lượng di tích văn hóa Óc Eo là 89, phân bố trên hầu khắp các tỉnh Nam Bộ, thậm chí cả ở Lâm Đồng [Lê Xuân Diệm và nnk. Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học về văn hóa Óc Eo được tổ chức, trong đó phải kể đến 3 cuộc hội thảo lớn, đó là: Hội thảo "Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long" tổ chức năm 1983 tại Long Xuyên (An Giang), Hội thảo "Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam" tổ chức năm 2004 tại TP.

Hồ Chí Minh, và Hội thảo "Văn hóa Óc Eo - nhận thức và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị di tích" tổ chức năm 2009 tại An Giang. Cùng với đó, những công trình khoa học quan trọng về văn hóa Óc Eo cũng được công bố hoặc xuất bản, tiêu biểu như cuốn "Văn hóa Óc Eo: Những khám phá mới" của Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn và Võ Sĩ Khải xuất bản năm 1995, Luận án Tiến sĩ của Đào Linh Côn về "Mộ táng trong văn hóa Óc Eo" bảo vệ năm 1995, hay Luận án Tiến sĩ của Lê Thị Liên về "Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thể kỷ X" và Luận án Tiến sĩ của Bùi Phát Diệm về "Các di tích văn hóa Óc Eo ở Long An" cùng bảo vệ trong năm 2003. Tóm lại, trải qua 70 năm nghiên cứu (tính từ năm 1944), những đặc trưng của văn hóa Óc Eo đã dần được làm rõ: - Về diện phân bố: có không gian phân bố rất rộng, từ lưu vực sông Hậu, sông Tiền đến lưu vực Vàm Cỏ - Đồng Nai. Cư dân văn hóa Óc Eo cư trú trên các tiểu vùng sinh thái khác nhau: tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, ven biển Tây Nam Bộ, hạ lưu sông Tiền, Đông Nam Bộ và khu vực rừng ngập mặn ven biển Đông Nam Bộ.

9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Về di tích: gồm có nhiều loại hình di tích khác nhau, như di chỉ cư trú, di chỉ kiến trúc tôn giáo, di tích mộ táng, di chỉ xưởng, đặc biệt là sự có mặt của các khu di tích lớn với tính chất phức hợp, có vai trò như là những trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáo và nghệ thuật như Gò Tháp, Óc Eo, Gò Thành. Bên trong và xung quanh các khu di tích này có các khu vực cư trú và sản xuất mang tính chất vệ tinh. Về mộ táng, bên cạnh truyền thống mộ huyệt đất và mộ vò, đã xuất hiện dấu hiệu của truyền thống táng tục mới: hỏa táng (Gò Tháp, Óc Eo). Có các công xưởng sản xuất (Óc Eo, Nhơn Thành, Gò Tháp) làm ra các loại hình di vật chịu ảnh hưởng ngoại lai: đồ trang sức làm từ thủy tinh, kim loại, đá bán quý, các tác phẩm điêu khắc tôn giáo v.

- Về di vật: cực kì phong phú và đa dạng về loại hình và chất liệu, đặc biệt là sự có mặt khá phổ biến của các loại chất liệu mới như vàng, bạc, chì- thiếc. Có nhiều di vật thể hiện ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng mới, đặc biệt là các tác phẩm điêu khắc (tượng thờ, linh vật, các lá vàng). Xuất hiện nhiều di vật ngoại lai (hạt chuỗi, bùa đeo, tiền tệ). Trong đồ gốm cũng xuất hiện loại hình và chất liệu mới, ví dụ như loại gốm vẽ màu đen đỏ và gốm graffiti giống với Ấn Độ, xuất hiện loại gốm mịn, sét lọc kĩ, pha cát mịn, dùng để làm các loại hình như kendi, cốc, chân đèn, nắp đậy.

Đây là những loại hình khác lạ với đồ gốm truyền thống ở lưu vực sông Đồng Nai và nam Đông Dương [Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, 1995], [Nguyễn Thị Hậu, 2012], [Lê Thị Liên, 2015a]. Từ đó có thể nhận thấy Óc Eo là một xã hội phát triển mạnh về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đặc biệt là giao lưu trên biển. Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều câu hỏi về nền văn hóa này cần phải giải đáp, mà nổi lên trong số đó là vấn đề nguồn gốc. Dưới đây tôi xin điểm lại những ý kiến đáng chú ý về nguồn gốc của văn hóa Óc Eo.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vấn đề quá trình hình thành của văn hóa Óc Eo Tuy chưa được để tâm đúng mức nhưng vấn đề nguồn gốc văn hóa Óc Eo đã ít nhiều được bàn đến trong các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước. Dưới đây là một số quan điểm của các học giả trong nước và quốc tế về vấn đề này. Các học giả nước ngoài Học giả nước ngoài đầu tiên bàn về vấn đề này chính là L.Malleret, người đã khai quật di tích Óc Eo và định danh cho nền văn hóa cổ này.

Trong công trình đồ sộ Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long, ở tập III, chương XX, ông có dành đôi dòng để bàn về nguồn gốc của văn hóa Óc Eo. Dựa trên sự có mặt của các loại hiện vật thuộc giai đoạn sớm như rìu, đục, vòng tay bằng đá, một số đồ đựng bằng gốm và rìu đồng, giáo đồng. thu thập được ở Óc Eo - Ba Thê, Đá Nổi, Núi Sập., ông cho rằng Óc Eo được hình thành vào giai đoạn cuối của của thời đá mới - kim khí. Theo Malleret, văn hóa Óc Eo là kết tinh của những yếu tố bản xứ và ngoại lai, trong đó ảnh hưởng ngoại lai đã xâm nhập vào đất này dần dần, không thông qua vũ lực, trước hết dưới hình thức thúc đẩy kinh tế, không vấp phải một sự phản ứng đáng kể nào của dân địa phương, do đó nó khá sâu sắc và liên tục.

Tuy nhiên, theo cách diễn giải của Malleret thì yếu tố ngoại sinh là quan trọng, là tác nhân chủ yếu đưa đến sự phát triển của văn hóa Óc Eo. Cụ thể hơn, ông cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa bản xứ và văn hóa ngoại lai là quan hệ lệ thuộc, trong đó văn hóa ngoại lai là văn hóa thống trị, còn văn hóa bản địa là văn hóa phụ thuộc [Malleret L. Sau Malleret, hầu như không có học giả nước ngoài nào bàn về nguồn gốc văn hóa Óc Eo một cách trực tiếp. Thay vào đó, vấn đề này được nhắc tới một cách gián tiếp trong các công trình nghiên cứu về vương quốc Phù Nam 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và lịch sử Đông Nam Á cổ đại.

Trong các công trình đó, cũng như Malleret, phần lớn các học giả nước ngoài đều cho rằng sự ra đời của vương quốc Phù Nam hay các quốc gia Ấn hóa khác ở Đông Nam Á chính là sự hình thành các vùng đất thực dân của người Ấn Độ.Majumdar, một học giả người Ấn, trong công trình Ancient Indian Colonization in South-East Asia, đã cho rằng có một số lượng lớn người Ấn Độ đến định cư ở Đông Nam Á, và chính những cư dân này đã thống trị Phù Nam cũng như những trung tâm văn minh sớm khác ở khu vực này [Majumdar R. Hay như Coedes, một học giả Pháp, trong cuốn sách The Indianized States of Southeast Asia, đã phát biểu rằng các cư dân ở Đông Nam Á vẫn ở trình độ Đá mới hậu kì trước khi tiếp xúc với văn hóa Bà la môn và Phật giáo của Ấn Độ. Và do đó, mọi thành tựu văn minh mà khu vực này đạt được đều nhờ tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, còn các cư dân bản xứ chỉ đóng vai trò tiếp nhận một cách thụ động [Coedes G. Trên đây là quan điểm phổ biến trong giới sử học phương Tây khi nhìn nhận về những nền văn minh sớm ở Đông Nam Á, vốn thịnh hành từ đầu thế kỷ XX cho tới những năm 1970.

Tuy nhiên, không phải không có những tiếng nói khác trong học giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ