mở đầu ở Mỹ đã tạo khả năng tiến hành tổ chức quản lý đồng thời và rộng rãi cùng ở một nơi nhiều loại hình sản xuất và dịch vụ khác nhau. Hoạt động từ xa sẽ được tăng cường mạnh mẽ và những cản trở của hàng rào không gian và khoảng cách giữa nơi làm việc và nơi ở, thời gian làm việc và giải trí đang và sẽ được phá bỏ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á hoàn toàn, cho phép tận dụng nhiều năng lực chuyên môn, hiện nay vẫn bị bỏ phí do có sự cách biệt hay phân tán số lớn nhân lực về mặt địa lý. Quốc tế hoá và toàn cầu hoá hoạt động tổ chức quản lý, trong nền kinh tế mới mang tính chất toàn cầu, tất cả các yếu tố như vốn tư bản, các thị trường, lao động, thông tin và công nghệ đều được tổ chức quản lý thường xuyên qua các đường biên giới quốc gia. Cái mới không chỉ phải ở chỗ thương mại quốc tế là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế của một nước, mà là ở chỗ nền kinh tế đó bắt đầu hoạt động với tính cách thực sự là một đơn vị ở cấp toàn cầu.
[36, 103-108] Từ những thay đổi to lớn trong sở hữu và quản lý tất yếu dẫn đến những thay đổi đang kể trong lợi ích kinh tế. Ngày nay, các nước đều áp dụng chiến lược kinh tế mở để thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật mới do TNCs chuyển tải đến. Ở đây các chủ thể kinh tế là các nước và TNCs luôn tìm các vùng giao thao lợi ích để thúc đẩy lẫn nhau phát triển trong xu thế toàn cầu hoá ngày càng tăng.3 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia Công ty xuyên quốc gia là một lực lượng kinh tế hùng mạnh, chiếm lĩnh và kiểm soát những khâu trọng yếu trong sản xuất, lưu thông, trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển. Các công ty xuyên quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới.
Những vai trò đó được thể hiện qua hoạt động thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển.1 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong thương mại quốc tế Trong quá trình hoạt động của mình, TNCs đã thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế bằng ba dòng lưu thông hàng hóa cơ bản là: hàng hóa xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hóa bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hóa trao đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn. TNCs chi phối hầu hết chu chuyển hàng hóa giữa các quốc gia bởi các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình. Trong những năm trở lại đây, hàng hóa bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài của TNCs liên tục tăng, nếu tổng giá trị xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á năm 1982 là 647 tỷ USD thì đến năm 1990 là 1.366 tỷ USD, năm 2004 là 3.733 tỷ USD, và đến năm 2005, con số này đã tăng gấp 6,5 lần năm 1982 đạt 4. Trong đó tổng giá trị xuất khẩu của các chi nhánh TNCs tại nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của nhiều quốc gia.
Bên cạnh đó, kênh trao đổi nội bộ ngành và nội bộ công ty cũng chiếm một tỷ lệ lớn trong việc chi phối thương mại quốc tế của TNCs. Sự gia tăng thương mại nội bộ ngành và nội bộ công ty gắn liền với xu thế toàn cầu hóa sản xuất và toàn cầu hóa hoat động của các doanh nghiệp. Buôn bán nội bộ ngành bao gồm trao đổi thông tin qua thị trường các sản phẩm trung gian và các chi tiết tạo ra sản phẩm cuối cùng. Đây là hệ quả của quá trình phân công lao động quốc tế theo chiều sâu: từ sản xuất theo dây truyền khép kín sang phân công mang tính phân tán giữa các nhà sản xuất trong cùng một ngành nhưng lại độc lập nhau.
Thực tế cho thấy, trao đổi nội bộ giữa các chi nhánh TNCs chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới. Giá trị trao đổi nội bộ này ngày càng tăng nhanh và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại của các nước. Trong những năm gần đây, TNCs chiếm khoảng 40% giá trị nhập khẩu và 60% giá trị xuất khẩu của toàn thế giới [54]. Với các hoạt động hướng về xuất khẩu, TNCs hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị xuất khẩu của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Á.
Sự thay đổi chiến lược của TNCs và hệ thống sản xuất quốc tế của chúng đã mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt động hướng về xuất khẩu. Theo báo cáo của UNCTAD năm 2005, trong cơ cấu thương mại thế giới, tỷ trọng thương mại của các nước đang phát triển chiếm 33,6% trong khi năm 1985 là 30,3%. Mặc dù các nước phát triển vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại thế giới (63,5%) song tỷ trọng thương mại của các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Xét một cách riêng rẽ thì bên cạnh các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Đức) thì những nền kinh tế đang phát triển (Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan…) cũng chiếm thị phần xuất khẩu lớn trong thương mại thế giới.
Bên cạnh vai trò dịch chuyển trao đổi thương mại từ các nước phát triển chuyển dần sang các nước đang phát triển, TNCs còn là chủ thể chính làm thay đổi cơ cấu hàng hoá trong thương mại quốc tế. Để duy trì khả năng cạnh tranh cao và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á tối đa hoá lợi nhuận, TNCs tiến hành các chiến lược tập trung phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao. Điều này đã làm giao dịch thương mại của thế giới thay đổi theo chiếu hướng tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao, giảm dần tỉ trọng hàng sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu. Năm 1983, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao chỉ chiếm 24% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới thì đến năm 1998 con số này đã tăng lên 39,3%.
Và tỉ trọng hàng xuất khẩu của hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao trong nội bộ TNCs chiếm tới 43,1% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu [54]. Như vậy, TNCs đang trở thành một yếu tố chủ chốt trong việc điều tiết hoạt động thương mại quốc tế và vai trò quan trọng này của TNCs ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế thế giới.2 Vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong đầu tư quốc tế Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh TNCs. TNCs hiện chi phối trên 90% tổng FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) của toàn thế giới. Chỉ tính riêng TNCs của tam giác kinh tế (Mỹ, Tâu Âu, Nhật Bản) đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu [76].
Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là thước đo quan trọng trong việc đánh giá vai trò của TNCs trong nền kinh tế thế giới. TNCs là chủ thể của hoạt động đầu tư thế giới, TNCs là nhân tố đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạt động đầu tư quốc tế. Theo ước tính của UNCTAD, hiện nay có khoảng 77.000 công ty mẹ và 900.000 chi nhánh nước ngoài hoạt động trong hầu các lĩnh vực của nền kinh tế [52]. Năm 2005, tổng giá trị đạt được của các công ty con chiếm 4,5 ngàn tỷ USD, tạo 62 triệu công ăn việc làm và hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ chiếm lên đến 4 ngàn tỷ [78].
Với mạng lưới quy mô rộng khắp và chiến lược kinh doanh tối đa hoá lợi nhuận, TNCs đang ngày càng chứng minh rõ hơn vai trò điều tiết hoạt động đầu tư của thế giới. Giai đoạn 1982 – 1996, chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của con số FDI, dòng vốn này tăng gấp 4 lần so với giai đoạn trước đó và đạt con số 3,2 tỷ USD năm 1996. Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ suy thoái năm 2001, TNCs giảm hoạt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com VAI TRÒ CỦA TNCs ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á động trên hầu hết tất cả các lĩnh vực, điều này đã làm cho dòng đầu tư bị chậm lại, giảm 51%, từ 1.492 tỉ USD xuống còn 735 tỉ USD. Và khi bước sang giai đoạn 2004 – 2006 nguồn vốn FDI đã tăng trở lại, tổng vốn FDI trên toàn cầu năm 2005 tăng 29% và đạt 916 tỉ USD [54].
Có sự gia tăng này là do các vụ M&A tăng lên cả về số lượng và giá trị, các vụ sát nhập này chủ yếu là từ các TNCs của Mỹ và Tây Âu. Trong những thập kỷ gần đầy, giá trị các vụ sát nhập chiếm tỷ lệ cao trong dòng vốn FDI của TNCs, năm 2004, các vụ sát nhập tăng 88% với giá trị lên đến 716 tỉ USD [76]. Việc thay đổi chiến lược và mục tiêu kinh doanh đã làm thay đổi dòng chảy FDI vào các đối tượng tiếp nhận. Năm 1979 – 1981, dòng vồn đầu tư tập trung chủ yếu vào các nước sản xuất dầu mỏ; năm 1987 – 1990, là giai đoạn chuyển giao FDI giữa các nước công nghiệp phát triển.
Tuy nhiên, trong cuộc bùng nổ đầu tư lần thứ 3 (1995 – 1996) đã có sự tham gia của một thực thể mới – các nước đang phát triển. Do chiến lược mở rộng chính sách tự do hoá FDI, TNCs ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển. Trên thực tế dòng chảy FDI vào các nước phát triển vẫn chiếm tỷ lệ cao 37% (2004) với tổng giá trị là 542 tỉ USD nhưng tổng lượng FDI vào các nước đang phát triển cũng đạt được con số ấn tượng, 334 tỉ USD. Ở các nước phát triển, Anh và Mỹ là 2 nước chiếm vị trí thứ nhất và thứ hai về số lượng vốn FDI thu hút được.
Trong khi đó, khối các nước đang phát triển thì Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) chiếm vị trí thứ nhất và thứ hai, sau đó là Singapore, Mexico và Brazil [76].