Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QLNN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP FDI 1. Cơ sở lý luận về QLNN đối với các doanh nghiệp FDI 1. QLNN đối với các doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các doanh nghiệp FDI a.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì? Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài, song tất cả đều cố gắng khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức của hoạt động này, có thể kể đến một vài quan điểm như: Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Theo OECD: FDI phản ánh mục tiêu của một thực thể cư trú tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) muốn có được lợi ích lâu dài trong một thực thể cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp). Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có được một tài sản ở một nước khác cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 đề cập đến khía cạnh khác của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư.
Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp. Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996) đã nêu: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”.8] Luật Đầu tư năm 2005 tại Việt Nam đã định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.2] Dù cách nhìn nhận khác nhau, nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức xuất khẩu tư bản trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn. Nhà đầu tư nước ngoài có một lượng vốn lớn đầu tư vào nước sở tại và tuân thủ theo các hình thức đầu tư do pháp luật nước đó quy định nhằm thu lợi nhuận cao.
Doanh nghiệp FDI Doanh nghiệp FDI là một loại hình tổ chức kinh doanh, trong đó có một hay nhiều chủ đầu tư cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế. Theo Luật Đầu tư năm 2014, Doanh nghiệp FDI bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có 2 hình thức doanh nghiệp là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Cả hai loại doanh nghiệp FDI này đều là công ty trách nhiệm hữu hạn và đều là những dự án đầu tư đơn ngành, đơn lĩnh vực.
Đối với lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động, đồng thời cũng quy định những bảo đảm và ưu đãi đầu tư. 14] Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh còn bao gồm cả doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam, cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học ở trong nước đáp ứng các điều kiện do Chính phủ Việt Nam quy định. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp FDI Thứ nhất, doanh nghiệp FDI là những tổ chức kinh tế chủ yếu được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có một phần hoặc toàn bộ số vốn nước ngoài. Mục tiêu chính của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, tự kiểm soát hoạt động và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, hợp tác với địa phương sở tại trên nguyên tắc “cùng có lợi”. Thứ hai, quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp, chủ yếu là người nước ngoài quản lý trực tiếp và nắm giữ vị trí chủ chốt, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của bên nước ngoài nhiều hơn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều ra đời và hoạt động theo luật pháp của Nhà nước Việt Nam và luật pháp quốc tế (bao gồm luật pháp của các quốc gia xuất thân của các bên và luật pháp quốc tế).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thứ ba, QLNN đối với các doanh nghiệp FDI phải có sự cân đối giữa lợi ích của địa bàn sở tại với nhà đầu tư. Mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp FDI là lợi nhuận kinh tế, trong khi đó mục tiêu của nước sở tại là phát triển kinh tế - xã hội, nên đôi khi xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Do đó, để điều hòa được mối quan hệ này cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên. Thứ tư, thời gian hoạt động của các doanh nghiệp FDI do Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định đối với từng dự án, thường không quá 50 năm, trường hợp đặc biệt có thể dài hơn nhưng tối đa không quá 70 năm.
Thứ năm, thông qua hợp tác đầu tư, doanh nghiệp FDI và địa bàn tiếp nhận có sự gặp gỡ, trao đổi về văn hoá, triết lý kinh doanh, pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói quen của hai bên. Đặc biệt, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp FDI tương đối phức tạp, nhiều khi mang sắc thái chính trị, tôn giáo rõ rệt, có thể gây khó khăn cho nước nhận đầu tư. Thứ sáu, doanh nghiệp FDI hoạt động dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên. Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên.
Các cơ quan QLNN của Việt Nam chỉ thực hiện chức năng quản lý về mặt Nhà nước đối với các hoạt động của loại hình doanh nghiệp này, vì vậy, để phát huy vai trò của các doanh nghiệp và hạn chế những tác hại do chạy theo lợi nhuận kinh tế gây ra, các cơ quan Nhà nước cần nâng cao năng lực quản lý với loại hình doanh nghiệp này. Tác động của các doanh nghiệp FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội - Tác động tích cực Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách Nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn mang lại các tác động gián tiếp (còn gọi là tác động tràn), tạo sức ép cạnh tranh trên thị trường, từ đó buộc các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư đổi mới công nghệ; cải tiến công tác quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho nước tiếp nhận đầu tư tháo gỡ những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý-kinh doanh quốc tế, hoàn thiện môi trường pháp lý, chính sách tài chính, tiền tệ, phát triển hạ tầng cứng- mềm, các thủ tục hải quan, hành chính… Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là “cú hích” từ bên ngoài khá hữu hiệu tạo nên một loạt sự thay đổi theo chiều hướng tích cực của nền kinh tế.
Đặc biệt vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn quan trọng khác để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho bên nhận đầu tư, hơn nữa, lượng vốn vay này thường có thời gian trả nợ vốn vay khá linh hoạt. Chuyển giao và phát triển công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm thu được lợi nhuận tối đa. Đối với những địa bàn kinh tế lạc hậu, chủ yếu dựa vào khu vực nông nghiệp thì việc chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là một giải pháp khá tiết kiệm và an toàn. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật công nghệ, thúc đẩy phát triển các nghề mới, đặc biệt là các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm ở địa phương nhận đầu tư, nhất là các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư.