Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tại Việt Nam" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Sỹ Nhất (chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế, Học viện Ngân hàng) dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Hà Trang vào tháng 5 năm 2021.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng kể từ mốc lịch sử thực hiện chính sách Đổi mới năm 1986, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một nguồn lực tài chính quan trọng đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, thể hiện qua mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 8,2% sau 10 năm Đổi mới. Dòng vốn này thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới và công nghệ mới. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng (tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, APEC, ASEM) cùng tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) liên tục dẫn đầu về quy mô thu hút vốn FDI tại Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ hấp thu dòng vốn FDI của ngành này chịu sự biến động phức tạp qua từng giai đoạn và chịu sự điều tiết của nhiều nhân tố vĩ mô trong nước cũng như bối cảnh kinh tế toàn cầu.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và các yếu tố tác động đến hoạt động thu hút FDI vào ngành.
- Đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI và phân tích thực nghiệm mức độ tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến dòng vốn FDI trong ngành CBCT tại Việt Nam.
- Đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm tăng cường thu hút vốn FDI vào ngành công nghiệp CBCT trong giai đoạn tiếp theo.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố kinh tế vĩ mô điển hình tác động đến dòng vốn FDI vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam, bao gồm: quy mô thị trường, độ mở thương mại, nguồn lực lao động và cơ sở hạ tầng.
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài nghiên cứu tổng thể ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam (không phân tích sâu từng phân ngành riêng lẻ); về thời gian, dữ liệu phục vụ nghiên cứu thực trạng và mô hình thực nghiệm được thu thập trong giai đoạn 2000 – 2019, đồng thời cập nhật một số số liệu bối cảnh đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận cơ sở lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua các định nghĩa chuẩn mực quốc tế từ Cẩm nang Cán cân Thanh toán lần thứ 6 (BPM6) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Định nghĩa chuẩn mực lần thứ 4 (2008) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) với tiêu chí nắm giữ từ 10% quyền biểu quyết, và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Về mặt pháp lý tại Việt Nam, tác giả căn cứ vào Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2020 (Luật số 61/2020/QH14, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) với các hình thức đầu tư quy định tại Điều 21: thành lập tổ chức kinh tế; góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; thực hiện dự án đầu tư; và hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
Đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nghiên cứu dựa trên quy chuẩn phân loại của Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và các tiêu chuẩn phân loại công nghệ của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO). Về khung phân tích nhân tố quyết định dòng vốn FDI, tác giả sử dụng mô hình PESTLE C của Scania kết hợp với khung lý thuyết các yếu tố quyết định FDI tại nước chủ nhà của Ngân hàng Thế giới (World Bank), tập trung vào các nhóm: môi trường chính trị - pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường xã hội và hạ tầng.
Về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, tác giả sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô hình Tự hồi quy phân phối trễ (ARDL - Autoregressive Distributed Lag) kết hợp với mô hình Hiệu chỉnh sai số (ECM - Error Correction Model). Dạng hàm tổng quát của mô hình được thiết lập:
$$Y_t = \alpha_0 + \sum_{i=1}^p \alpha_i Y_{t-i} + \sum_{j=0}^q \beta_j X_{t-j} + \epsilon_t$$
Trong đó, biến phụ thuộc ($Y$) là dòng vốn FDI vào ngành chế biến, chế tạo; các biến độc lập ($X$) gồm quy mô thị trường (đại diện bằng GDP), độ mở thương mại, nguồn lực lao động và cơ sở hạ tầng; $p$ và $q$ lần lượt là độ trễ của biến phụ thuộc và biến độc lập; $\epsilon_t$ là phần nhiễu trắng. Quy trình kiểm định định lượng bao gồm:
- Kiểm định nghiệm đơn vị (tính dừng) của chuỗi thời gian;
- Xác định độ trễ tối ưu cho mô hình;
- Kiểm định đường bao (Bounds test) để xác định mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa các biến;
- Ước lượng các hệ số hồi quy trong dài hạn và ngắn hạn (ECM);
- Thực hiện các kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình (tự tương quan, phương sai sai số thay đổi, kiểm định tính ổn định của phần dư CUSUM và CUSUMSQ);
- Chạy hồi quy đối chứng với số liệu FDI của ngành Nông - Lâm - Thủy sản.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là số liệu chuỗi thời gian thứ cấp giai đoạn 2000 – 2019 được trích xuất từ Tổng cục Thống kê (TCTK), Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới (World Bank), UNIDO và Trade Map.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết nền tảng về FDI và ngành công nghiệp CBCT. Tác giả phân loại FDI theo động cơ (FDI chiều ngang, FDI chiều dọc gồm backward và forward vertical FDI, FDI hỗn hợp); theo định hướng nước tiếp nhận (thay thế nhập khẩu, gia tăng xuất khẩu, chính phủ khởi xướng); và theo hình thức thâm nhập (đầu tư mới Greenfield, mua lại và sáp nhập M&A, liên doanh Joint ventures).
Về vai trò của FDI đối với Việt Nam, tác giả tổng hợp số liệu cho thấy khu vực FDI duy trì tỷ trọng từ 21% đến 24% trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2014 – 2020. Đóng góp của khu vực FDI vào GDP tăng trưởng liên tục: từ mức bình quân 223.100 tỷ đồng giai đoạn 2005 – 2009 lên 561.180 tỷ đồng giai đoạn 2010 – 2015; đạt 982.678 tỷ đồng (19,63% GDP) năm 2017; 1,12 triệu tỷ đồng (20,28% GDP) năm 2018 và 1,23 triệu tỷ đồng (20,35% GDP) năm 2019. Về ngân sách, giai đoạn 2013 – 2017 khu vực này đóng góp 711.122 tỷ đồng (chiếm 13,80% tổng thu ngân sách), và trong hai năm 2018 – 2019 nộp 396.619 tỷ đồng. Về thương mại, khu vực FDI chiếm tỷ trọng áp đảo trong kim ngạch xuất nhập khẩu: xuất khẩu năm 2017 đạt 154,91 tỷ USD (71,5% tổng xuất khẩu), năm 2019 đạt 179,2 tỷ USD (67,8%), năm 2020 đạt 203.316 triệu USD (72,23%).
| Tiêu chí |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
| Tổng GDP cả nước (tỷ đồng) |
4.192.862 |
4.502.733 |
5.005.975 |
5.542.332 |
6.037.348 |
| Đóng góp của khu vực FDI (tỷ đồng) |
757.297 |
840.871 |
982.678 |
1.124.086 |
1.228.618 |
| Tỷ trọng khu vực FDI trong GDP (%) |
18,06 |
18,67 |
19,63 |
20,28 |
20,35 |
Đối với ngành công nghiệp CBCT, theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg, ngành được xếp tại mục C cấp 01, bao gồm 24 ngành cấp 02 và 71 tiểu ngành cấp 03. Tác giả chứng minh ngành CBCT là động lực tăng trưởng chính của toàn ngành công nghiệp: năm 2017 chỉ số sản xuất ngành CBCT tăng 14,5%; năm 2018 tăng 12,3%; năm 2019 tăng 10,5% và năm 2020 tăng 4,9%. Đóng góp của ngành CBCT vào GDP tăng từ mức 16,48% (995.126 tỷ đồng) năm 2019 lên 16,7% năm 2020. Tỷ trọng xuất khẩu của nhóm hàng CBCT luôn chiếm trên 80% tổng kim ngạch cả nước (năm 2017 đạt 173,5 tỷ USD - chiếm 81%; năm 2018 đạt 202,67 tỷ USD - chiếm 82,8%; năm 2019 chiếm 84,33%; năm 2020 chiếm 86,1% tương đương 242,37 tỷ USD). Trong đó, mã ngành HS 85 (máy móc, thiết bị điện) dẫn đầu xuất khẩu với 97,15 tỷ USD năm 2019.
Cuối chương 1, tác giả phân tích cơ sở lý thuyết của 5 nhân tố tác động đến thu hút FDI vào ngành CBCT gồm: Môi trường kinh doanh; Quy mô thị trường; Nguồn nhân lực; Cơ sở hạ tầng; và Xúc tiến thương mại/Độ mở thương mại.
Chương 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam
Nội dung chương 2 tập trung phân tích thực trạng dòng vốn FDI vào ngành CBCT và ước lượng mô hình kinh tế lượng. Giai đoạn 2008 – 2020, dòng vốn FDI vào ngành CBCT ghi nhận những biến động theo từng thời kỳ:
- Giai đoạn 2008 – 2011: Chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, vốn FDI vào CBCT năm 2008 đạt 6.532 triệu USD, giảm 39,72% xuống 3.937 triệu USD năm 2009, sau đó hồi phục lên 5.979 triệu USD năm 2010 và 7.798 triệu USD năm 2011.
- Giai đoạn 2012 – 2015: Đánh dấu bước nhảy vọt vào năm 2012 với 11.701 triệu USD (chiếm 71,57% tổng vốn FDI toàn nền kinh tế); năm 2013 đạt 17.141 triệu USD; năm 2014 giảm xuống 15.505 triệu USD do biến động địa chính trị nhưng vẫn chiếm 70,73% tổng FDI; năm 2015 tăng lên 16.428 triệu USD.
- Giai đoạn 2016 – 2019: Vốn FDI vào CBCT đạt 16.936 triệu USD năm 2016; giảm nhẹ xuống 16.189 triệu USD năm 2017; sau đó tăng mạnh lên 19.378 triệu USD năm 2018 và đạt đỉnh 25.196 triệu USD năm 2019.
| Năm |
Dự án cấp mới (Số dự án) |
Vốn đăng ký cấp mới (Triệu USD) |
Lượt dự án tăng vốn |
Vốn tăng thêm (Triệu USD) |
Lượt góp vốn, mua CP |
Vốn góp, mua CP (Triệu USD) |
Tổng vốn FDI vào CBCT (Triệu USD) |
| 2018 |
1.067 |
8.895,3 |
616 |
5.602,5 |
1.258 |
2.080,4 |
16.578,2 |
| 2019 |
1.355 |
12.368,1 |
823 |
5.892,7 |
1.842 |
6.353,2 |
24.614,0 |
| 2020 |
852 |
6.782,4 |
557 |
4.821,3 |
1.134 |
2.001,5 |
13.605,2 |
Dòng vốn FDI của ngành tập trung quy mô lớn ở phân ngành điện tử với các dự án trọng điểm: Samsung Display Bắc Ninh (cấp phép 1 tỷ USD năm 2014, tăng 3 tỷ USD năm 2015); LG Display Hải Phòng (1,5 tỷ USD năm 2016, tăng 500 triệu USD năm 2018); LG Innotek Hải Phòng (550 triệu USD năm 2016, tăng 501 triệu USD năm 2018); bên cạnh ngành dệt may và hóa chất với dự án Hyosung Đồng Nai (660 triệu USD), Hyosung Bà Rịa – Vũng Tàu (1,201 tỷ USD năm 2018), Vinhtex (200 triệu USD năm 2019), Polytex Far Eastern Bình Dương (tăng 485,8 triệu USD năm 2017).
Trong phần ước lượng định lượng, tác giả xây dựng bảng mô tả dữ liệu giai đoạn 2000 – 2019 (20 quan sát). Sau khi thực hiện kiểm định tính dừng (kiểm định nghiệm đơn vị ADF), kiểm định lựa chọn độ trễ tối ưu và kiểm định đường bao (Bounds test), kết quả xác nhận tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa FDI ngành CBCT và các biến độc lập. Kết quả hồi quy mô hình ARDL trong dài hạn và mô hình ECM trong ngắn hạn phản ánh mức độ tác động của quy mô thị trường, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Kiểm định tổng tích lũy phần dư (CUSUM) và tổng tích lũy bình phương phần dư (CUSUMSQ) khẳng định mô hình có tính ổn định cao ở mức ý nghĩa 5%.
Chương 3: Giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và kiểm định mô hình kinh tế lượng, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị chính sách:
- Định hướng: Thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, chuyển dần từ gia công lắp ráp sang các công đoạn thiết kế, R&D và sản xuất linh kiện cốt lõi.
- Nhóm giải pháp cụ thể:
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đổi mới chương trình đào tạo nghề kỹ thuật công nghiệp, gia tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo (vốn chỉ đạt 17,9% năm 2018 và 17,7% năm 2019 trong ngành CBCT) nhằm đáp ứng nhu cầu khắt khe của các tập đoàn công nghệ đa quốc gia.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng: Đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông vận tải, logistics, hệ thống cung cấp điện, nước và hạ tầng số/viễn thông nhằm giảm chi phí lưu thông hàng hóa cho doanh nghiệp CBCT hoạt động theo chuỗi liên kết dọc.
- Phát triển thị trường: Khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mở rộng dung lượng thị trường tiêu thụ nội địa và thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Nhóm kiến nghị chính sách:
- Cải thiện hành lang pháp lý: Tăng cường tính minh bạch, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến cấp phép dự án đầu tư và các quy định quản lý chuyên ngành đối với 71 tiểu ngành CBCT.
- Đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư: Chuyển từ xúc tiến diện rộng sang xúc tiến có mục tiêu, tiếp cận trực tiếp các tập đoàn đa quốc gia đứng đầu chuỗi giá trị (như Samsung, LG, Intel).
- Quy hoạch và phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp mới: Xây dựng các khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp chuyên ngành liên kết chuỗi sản xuất nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường và tạo quỹ đất sạch cho dự án lớn.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu:
- Khóa luận làm rõ bức tranh thu hút FDI vào ngành CBCT với các chỉ số định lượng cụ thể: Dòng vốn FDI vào CBCT chiếm tỷ lệ chi phối từ 50% đến hơn 70% tổng vốn FDI đăng ký của cả nước (năm 2012 chiếm 71,57%, năm 2014 chiếm 70,73%); xuất khẩu ngành CBCT chiếm tỷ trọng từ 81% đến 86,1% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc giai đoạn 2017 – 2020.
- Ứng dụng thành công mô hình ARDL để kiểm định mối quan hệ giữa dòng vốn FDI ngành CBCT với các yếu tố vĩ mô trên chuỗi dữ liệu 20 năm (2000 – 2019), khẳng định mối liên hệ dài hạn giữa quy mô thị trường, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực đối với dòng vốn đầu tư.
- Chỉ ra sự dịch chuyển của cơ cấu dòng vốn đầu tư toàn xã hội: tỷ trọng khu vực nhà nước giảm dần (từ 35,7% năm 2017 xuống 31% năm 2019), khu vực tư nhân tăng từ 40,6% lên 46%, trong khi khu vực FDI duy trì ổn định quanh ngưỡng 22% – 24%.
Về đóng góp học thuật và thực tiễn tự nêu của đề tài:
- Khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các công trình trước đây tại Việt Nam (thường chỉ nghiên cứu FDI cho toàn bộ nền kinh tế hoặc nghiên cứu cấp địa phương giai đoạn ngắn), khóa luận đi sâu nghiên cứu chuyên biệt cho riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
- Sử dụng phương pháp kinh tế lượng ARDL kết hợp ECM phù hợp với chuỗi số liệu thời gian có mẫu nhỏ (20 quan sát), cho phép đo lường đồng thời cả tác động ngắn hạn và dài hạn mà không đòi hỏi các biến phải có cùng bậc tích hợp dừng như phương pháp OLS truyền thống.
- Đưa ra kiểm định đối chứng thực nghiệm với ngành Nông - Lâm - Thủy sản để làm rõ tính chất đặc thù của các nhân tố tác động đến ngành CBCT.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi phân tích dừng lại ở mức độ tổng quan toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mà chưa đi sâu bóc tách và ước lượng mô hình kinh tế lượng riêng biệt cho từng phân ngành cấp 02 hay cấp 03 (như dệt may, điện tử, hóa chất, chế biến thực phẩm), mặc dù mỗi phân ngành có đặc thù thâm dụng lao động, thâm dụng vốn hay yêu cầu công nghệ rất khác nhau.
- Mô hình định lượng mới chỉ bao quát 4 biến kinh tế vĩ mô chính (thị trường, độ mở thương mại, lao động, hạ tầng), chưa lượng hóa được các yếu tố định tính phức tạp thuộc môi trường thể chế, thủ tục hành chính và chính sách ưu đãi thuế do hạn chế về nguồn dữ liệu chuỗi thời gian.
- Chuỗi số liệu định lượng kết thúc ở năm 2019, chưa lượng hóa được tác động toàn diện và dài hạn của đại dịch Covid-19 đối với dòng vốn FDI giai đoạn sau năm 2020.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở:
- Mở rộng mô hình nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (Panel Data) để phân tích so sánh giữa các phân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cấp 02 hoặc dữ liệu cấp tỉnh/thành phố trên cả nước.
- Bổ sung các chỉ số đo lường chất lượng thể chế (như PCI), chi phí phi chính thức và các biến giả phản ánh các cú sốc kinh tế toàn cầu để hoàn thiện mô hình giải thích dòng vốn FDI.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cụ thể đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế, Kinh tế Quốc tế và Quản trị Kinh doanh: Cung cấp tài liệu tổng quan hệ thống hóa về các khái niệm FDI quốc tế (IMF, OECD, WTO, UNCTAD), quy định pháp lý của Luật Đầu tư Việt Nam, và cách vận dụng khung lý thuyết PESTLE C vào phân tích dòng vốn đầu tư ngành.
- Người nghiên cứu thực hiện các đề tài kinh tế lượng chuỗi thời gian: Có thể tham khảo chi tiết quy trình chạy mô hình ARDL và ECM trên cỡ mẫu nhỏ (từ 20 quan sát), bao gồm các bước kiểm định nghiệm đơn vị ADF, chọn độ trễ, kiểm định đường bao Bounds test và kiểm định tính ổn định CUSUM/CUSUMSQ.
- Cơ quan hoạch định chính sách và tổ chức xúc tiến đầu tư: Cung cấp hệ thống dữ liệu thứ cấp chi tiết về thực trạng các dự án FDI lớn (Samsung, LG, Hyosung, Polytex Far Eastern) cùng bức tranh đóng góp thực tế của ngành CBCT vào tăng trưởng GDP và kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Giai đoạn 2014 – 2020, cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giữa các khu vực kinh tế tại Việt Nam biến động như thế nào?
Theo số liệu Tổng cục Thống kê được tác giả trích dẫn, khu vực kinh tế nhà nước có tỷ trọng giảm đáng kể từ 35,7% năm 2017 xuống còn 31% năm 2019 (bình quân giảm trên 2%/năm), trước khi tăng lên 33,7% (729 nghìn tỷ đồng) năm 2020 để giải ngân đầu tư công ứng phó suy thoái. Ngược lại, khu vực kinh tế tư nhân tăng từ 40,6% lên 46% giai đoạn 2014 – 2019. Khu vực FDI duy trì tỷ trọng ổn định trong biên độ 22% – 24% (năm 2014 là 21,7%; năm 2017 đạt 23,7%; năm 2019 đạt 23%; năm 2020 đạt 463,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 7,36% GDP).
2. Vì sao tác giả lựa chọn mô hình Tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) thay vì mô hình OLS truyền thống?
Mô hình OLS truyền thống đòi hỏi chuỗi dữ liệu phải có tính dừng cùng bậc và không phản ánh được tác động phân phối trễ qua thời gian. Trong khi đó, mô hình ARDL kết hợp giữa mô hình tự hồi quy vectơ (VAR) và OLS, không yêu cầu các biến phải có cùng bậc tích hợp dừng (chấp nhận cả I(0) và I(1)), khắc phục được hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Đặc biệt, ARDL vận hành tin cậy trên cỡ mẫu nhỏ (chỉ từ 20 quan sát) và cho phép ước lượng đồng thời mối quan hệ tác động trong cả dài hạn và ngắn hạn qua mô hình hiệu chỉnh sai số ECM.
3. Những dự án FDI quy mô lớn nào đã dẫn dắt làn sóng điều chỉnh tăng vốn trong ngành CBCT giai đoạn 2014 – 2019?
Các dự án tiêu biểu gồm:
- Dự án Samsung Display Việt Nam (Bắc Ninh): Đăng ký ban đầu 1 tỷ USD năm 2014, điều chỉnh tăng thêm 3 tỷ USD vào năm 2015.
- Dự án LG Display Hải Phòng: Cấp phép 1,5 tỷ USD năm 2016, điều chỉnh tăng thêm 500 triệu USD năm 2018.
- Dự án LG Innotek Hải Phòng: Đăng ký 550 triệu USD tháng 9/2016, tăng thêm 501 triệu USD tháng 2/2018.
- Dự án Hyosung (Bà Rịa – Vũng Tàu): Nhà máy sản xuất polypropylene (PP) và kho ngầm LPG với vốn đăng ký 1,201 tỷ USD năm 2018.
- Dự án Polytex Far Eastern (Bình Dương): Tăng vốn thêm 485,8 triệu USD năm 2017 để sản xuất xơ tổng hợp polyester.
4. Vai trò của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đối với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được phản ánh qua các con số nào?
Tỷ trọng nhóm hàng CBCT luôn chiếm áp đảo trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước: năm 2017 đạt 173,5 tỷ USD (chiếm 81%); năm 2018 đạt 202,67 tỷ USD (chiếm 82,8%); năm 2019 chiếm 84,33%; và năm 2020 đạt mức kỷ lục 86,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (tương đương 242,37 tỷ USD), góp phần đưa cán cân thương mại Việt Nam thặng dư gần 19,1 tỷ USD. Nhóm ngành xuất khẩu lớn nhất là mã HS 85 (máy móc, thiết bị điện, linh kiện điện tử) đạt trị giá 97,15 tỷ USD năm 2019.
5. Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam quy định cấu trúc phân loại ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ra sao?
Theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg, ngành công nghiệp CBCT được xếp tại Mục C cấp 01, bao gồm 24 ngành ở cấp độ 02 và 71 tiểu ngành ở cấp độ 03, phân loại chi tiết đến cấp 05. Ngành bao gồm tất cả các hoạt động làm biến đổi tính chất vật lý, hóa học của vật liệu để tạo ra sản phẩm mới, tính cả hoạt động lắp ráp, tái chế rác thải, lắp đặt, sửa chữa và bảo dưỡng máy móc.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Sỹ Nhất đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận và bức tranh thực tiễn về hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2020. Thông qua việc ứng dụng mô hình kinh tế lượng ARDL và ECM trên chuỗi dữ liệu 20 năm, công trình đã kiểm định mối quan hệ tác động ngắn hạn và dài hạn của các nhân tố vĩ mô gồm quy mô thị trường, độ mở thương mại, nguồn lao động và cơ sở hạ tầng đến dòng vốn FDI của ngành. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực chứng để tác giả đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng kỹ thuật và đổi mới chính sách xúc tiến đầu tư có chọn lọc, hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững và gia tăng giá trị nội địa hóa cho nền kinh tế Việt Nam.