Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ĐOÀN 1. Vị trí của Công đoàn Nhìn lại lịch sử, công đoàn đã ra đời từ những thập niên cuối thế kỷ XVIII, khi mà nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cơ chế tự do cạnh tranh đang bộc lộ rất nhiều khuyết tật. Công đoàn ra đời vì yêu cầu lợi ích của công nhân, lao động và để thống nhất lực lượng giai cấp công nhân, đấu tranh cho sự phát triển xã hội.
Và ngày nay, ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, có rất nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức từ thiện hoạt động nhưng chỉ có tổ chức công đoàn mới trực tiếp tham gia giải quyết quan hệ lao động. Ở Việt Nam, trong quá trình phát triển của lịch sử và cách mạng, vị trí của Công đoàn trong mỗi giai đoạn có khác nhau. Trong chủ nghĩa tư bản, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công đoàn đại diện cho người lao động đấu tranh với giai cấp bóc lột đòi quyền lợi kinh tế cho người lao động, tiến tới đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, thành lập chính quyền nhân dân. Trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, người lao động đang từ vị trí bị bóc lột, làm thuê nay trở thành người làm chủ xã hội, tổ chức công đoàn là đại diện cho người lao động và là thành viên trong hệ thống chính trị - xã hội, do đó vị trí công đoàn trong chủ nghĩa xã hội khác với thời kỳ chủ nghĩa tư bản, đó là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, lao động.
Công đoàn Việt Nam là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền giữa Đảng với quần chúng. Công đoàn Việt Nam là người cộng tác đắc lực của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 10 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiể m tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [39]. Điều 1 Luật Công đoàn năm 2012 cũng khẳng định: Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được hình thành trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Như vậy, Hiến pháp và Luật Công đoàn khẳng định tính chất của tổ chức công đoàn là "tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động" không phải là tổ chức xã hội nghề nghiệp như Công đoàn ở nhiều nước khác. Công đoàn trước hết là một tổ chức chính trị - xã hội mang tính tự nguyện, hình thành trên cơ sở sự đồng lòng của người lao động. Quyết định có hay không tham gia vào tổ chức công đoàn là phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người lao động. Là tổ chức xã hội, công đoàn bình đẳng với các tổ chức xã hội khác, nhưng đồng thời là tổ chức chính trị nên công đoàn có vị thể đặc biệt hơn so với các tổ chức xã hội khác.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công đoàn phát huy vai trò trường học của mình, tham gia quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thuyết phục quần chúng phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công cuộc xây dựng xã hội mới, thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công đoàn vận động công nhân, viên chức, lao động thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, ủng hộ Nhà nước triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Không có sự ủng hộ của Công đoàn - cơ sở xã hội của Nhà nước thì chính quyền nhà nước sẽ bị lung lay. Nhà nước tôn trọng và giải quyết những kiến nghị của Công đoàn một cách hữu hiệu; tạo điều kiện pháp lý cho Công đoàn hoạt động.
Công đoàn phát huy vai trò tham gia, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước. Công đoàn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, cùng các thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc tạo nên cơ sở chính trị - xã hội vững chắc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Công đoàn tham gia vào Mặt trận Tổ quốc với tư cách là một tổ chức độc lập, có đối tượng vận động cụ thể là công nhân, viên chức, lao động, có chức năng, nhiệm vụ, phương pháp hoạt động riêng của mình. Với các đoàn thể chính trị - xã hội khác (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh), Công đoàn có quan hệ bình đẳng, phối hợp, nhằm hoàn thành mục tiêu chính trị của Đảng, của Nhà nước và của các tổ chức chính trị - xã hội.
Chức năng của Công đoàn Trong từng điều kiện lịch sử xã hội khác nhau, chức năng của tổ chức công đoàn cũng có những khác biệt. Bởi chức năng của Công đoàn gắn chặt với môi trường xã hội, sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, chính trị tư tưởng, văn hóa xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Hiến pháp năm 2013 đã xác định, Công đoàn có chức năng: Chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiể m tra , thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [39]. Luật Công đoàn năm 2012 cơ bản vẫn giữ nguyên ba chức năng như luật Công đoàn năm 1990.
Nhưng, trước tình hình các doanh nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển, mối quan hệ lao động giữa chủ và thợ ngày càng trở nên gay gắt và phức tạp. Trước trách nhiệm với người lao động, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn không còn dàn trải như giai đoạn đầu của thời kỳ kinh tế thị trường nữa mà phải tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm nhất nhằm xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà trong các doanh nghiệp, các cơ quan, đơn vị. Vì vậy, lúc này chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động phải được đặt lên hàng đầu và được coi là chức năng trung tâm, chức năng quan trọng nhất trong ba chức năng của tổ chức công đoàn. Để làm nổi bật nội dung trên, Luật Công đoàn năm 2012 đã thiết kế: đưa Khoản 1, Điều 2 (Luật Công đoàn 1990) nhập với Khoản 1, Điều 1 (Luật Công đoàn 1990) thành Điều 1 của Luật Công đoàn 2012.
Các chức năng cơ bản của Công đoàn, là một chỉnh thể thống nhất, đan xen, tác động qua lại với nhau, chức năng này làm tiền đề cho chức năng kia, đó là: * Chức năng đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Để bảo vệ lợi ích của người lao động, Công đoàn cùng với chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho người lao động. Cụ thể như tham gia vào lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, phân phối sử dụng quỹ phúc lợi tập thể; hướng dẫn, giúp đỡ người lao động ký kết hợp đồng lao động, đại diện cho người lao động thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, thương lượng giải quyết tranh chấp lao động; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách đối với người lao động; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động, phát huy dân chủ, bình đẳng và công bằng xã hội; tổ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch, tham quan nghỉ mát. Trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề quan trọng hàng đầu là các cấp Công đoàn và mỗi cán bộ Công đoàn cần nhận thức đúng đắn về chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của Công đoàn, công đoàn viên, từ đó lan tỏa nhận thức ra toàn xã hội về chức năng và mục tiêu hoạt động của tổ chức công đoàn.
Thực tế đã chứng minh, ở đâu Công đoàn cơ sở hoạt động mạnh, làm tốt vai trò đại diện của mình thì được người lao động tin tưởng, đồng thời thuyết phục được người sử dụng lao động, giúp người sử dụng lao động và người lao động hiểu và chia sẻ với nhau hơn, từ đó tìm được tiếng nói chung, giải quyết kịp thời những mâu thuẫn phát sinh, hạn chế và không để xảy ra tranh chấp lao động. Xây dựng được mối quan hệ lành mạnh, hài hòa giữa người lao động - Công đoàn - người sử dụng lao động sẽ là nguồn nội lực quan trọng để xây dựng và phát triển doanh nghiệp, là biểu hiện sinh động của văn hóa doanh nghiệp. Công đoàn cơ sở phải dựa vào đoàn viên, sâu sát đoàn viên, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người lao động, trên cơ sở đó chủ động đàm phán, thương lượng với người sử dụng lao động đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của người lao động. Công đoàn cơ sở phải xác định được những nguy cơ tiềm ẩn làm phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ lao động để chủ động cùng với người sử dụng lao động, cơ quan hữu quan và Công đoàn cấp trên giải quyết kịp thời, thỏa đáng.