Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG XỬ CỦA HỘ DÂN VỚI MÔI TRƯỜNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN 2.
Lý luận về môi trường và ô nhiễm môi trường 2. Môi trường Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2006). Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn, các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ (Bách khoa toàn thư, 1994). Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình (UNESCO, 1981).
Như vậy, môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên hoặc nhân tạo, lý học, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội cùng tồn tại trong một không gian bao quanh con người. Các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng cùng tồn tại và phát triển. Ô nhiễm môi trường a. Khái niệm Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường (Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2006).
Theo cách hiểu chung, ô nhiễm môi trường là hiện tượng một chất nào đó có mặt trong môi trường với thành phần và lượng chất có khả năng ngăn cản các quá trình tự nhiên vận hành một cách bình thường hoặc làm cho các quá trình này xảy ra theo xu hướng không như mong muốn, gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức khỏe và sự sinh tồn của con người hoặc các loài sinh vật khác sinh sống trong môi trường đó. Ô nhiễm môi trường còn được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
Phân loại ô nhiễm môi trường Trên cơ sở phân loại theo các chất gây ô nhiễm và những tác động chính của chúng đối với môi trường, ô nhiễm môi trường (ÔNMT) được phân thành 7 loại: - Ô nhiễm môi trường đất: ÔNMT đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm. Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. - Ô nhiễm không khí: Là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (có bụi). Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí: Các loại chất thải (khói, bụi, khí độc,.) của công nghiệp khai thác hầm mỏ, xí nghiệp, các phương tiện giao thông vận tải chạy bằng xăng, dầu,.
Ô nhiễm không khí dễ gây nhiều bệnh nghề nghiệp (nhiễm bụi sillic phổi.), bệnh dị ứng (hen suyễn.), một số bệnh ung thư, các bệnh mãn tính đường hô hấp (viêm phế quản mãn tính. Trên phạm vi rộng lớn, ô nhiễm không khí gây tác hại đến hệ sinh thái, đến các công trình xây dựng và các di tích lịch sử, đang làm tăng nhiệt độ trung bình Trái Đất với nhiều hậu quả chưa lường hết được. Ô nhiễm không khí là một phần của ô nhiễm môi trường, vấn đề mà hiện nay cả thế giới đang quan tâm và được bàn luận ở nhiều hội nghị quốc tế. - Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, nông nghiệp, công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng. Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo do quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước. - Ô nhiễm nhiệt: Hiện tượng nhiệt từ các nhà máy nhiệt điện, nhà máy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điện nguyên tử và các hệ thống điều hòa là tác nhân chính làm nóng bầu khí quyển, làm cho bầu không khí bị ô nhiễm và làm thủng tầng ozon. Bên cạnh các nhà máy điện nguyên tử, ô nhiễm nhiệt cũng làm cho mực nước các dòng sông tăng, khiến cho hàm lượng oxi trong nước giảm gây ảnh hưởng đến sự hô hấp của các loài sinh vật sống dưới nước, làm các phản ứng sinh hóa trong cơ thể của các loài vật bị xáo trộn dẫn đến tình trạng các sinh vật này không phát triển được hoặc bị chết hàng loạt.
- Ô nhiễm tiếng ồn: Ô nhiễm môi trường do tiếng ồn là tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số và chu kỳ khác nhau, hay nói cách khác tiếng ồn là những âm thanh chói tai phát sinh từ những nguồn chấn động không tuần hoàn. Hàng ngày, cuộc sống của chúng ta phải tiếp xúc với rất nhiều các loại tiếng ồn khác nhau từ các phương tiện giao thông, từ các hoạt động sản xuất xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp,. hoặc làm việc trong môi trường ồn (xưởng sản xuất, nhà máy, hầm mỏ,. Tiếng ồn làm cho sức khỏe con người bị ảnh hưởng, phát sinh các bệnh nghề nghiệp (ù tai, điếc, thần kinh,.
- Ô nhiễm phóng xạ: Sự ô nhiễm môi trường gây ra bởi các chất phóng xạ nguy hiểm. Đặc biệt là sự ô nhiễm bởi các chất phóng xạ không bị tiêu hủy hay không bị vô hiệu hóa bởi con người mà nó tự phân hủy theo thời gian, do đó không thể loại trừ chất phóng xạ khi bị ô nhiễm. - Ô nhiễm biển: Là hiện tượng làm biến đổi, hoặc xáo trộn các thành phần hóa học của nước biển gây ra do các hoạt động của con người trên biển như vận tải (tràn dầu, các hoạt động tẩy rửa tàu thuyền, nhiên liệu,.) khai thác dầu (rò rỉ dầu từ các dàn khoan, nhà máy lọc dầu,.) hoặc do các nguồn ô nhiễm phát sinh từ đất liền ảnh hưởng tới đời sống của các loài sinh vật dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triển của chúng. Lý luận về nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường nuôi trồng thuỷ sản 2.
Khái niệm hộ nông dân - Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân. Tchayanov cho rằng: “Hộ nông dân là một đơn vị sản xuất ổn định và ông coi hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp”. Luận điểm của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đồng tình với quan điểm trên của Tchayanov, hai tác giả Matslundal và Tommy Bengtson bổ sung và nhấn mạnh thêm: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản”. Vì vậy, các cải cách kinh tế ở một số nước trong những thập kỷ gần đây đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn “Hội nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với trình độ hoàn chỉnh không cao” (Frank Ellis, 1993). - Ở nước ta, cũng có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân, Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. - Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Từ các khái niệm, đặc điểm trên cho thấy hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau, hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng. Khái niệm về nuôi trồng thủy sản, hộ nuôi trồng thủy sản, vai trò, đối tượng và các hình thức nuôi trồng thủy sản a. Khái niệm về nuôi trồng thủy sản - NTTS là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các hình thức nuôi trồng động thực vật thủy sinh ở các môi trường nước ngọt lợ mặn (Pillay, 1990). NTTS là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào qui trình nuôi nhằm nâng cao năng suất; thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể.
- Một số tác giả khái niệm nuôi thủy sản đơn giản hơn đó là nuôi hay canh tác động và thực vật dưới nước (FAO, 2008). NTTS là hoạt động sản xuất động thực vật thủy sản có sự kiểm soát của con người trong một phần hay toàn bộ chu kỳ sống của chúng.