chương 1 *Vẽ kĩ thuật cor Phép chiếu cho hình nỗi 3D (xuất hi tử phiên bản GeoGebra 5) là một tính năng rất hiểm trên các phần mềm hình học động có trên thị trường. Vẻ mặt lý thuyết, nó tạo ra hai “nữa-hình ảnh” được tạo ra bởi việc sử dụng hai phép chiếu xuyên tâm với tâm chiếu cách nhau khoảng 6,Šem (tương ứng với khoảng cách giữa hai trồng mắt người). Hai nữa hình ảnh này sẽ được tô mẫu khắc nhau, thường là đỏ và xanh. Sau đồ, bằng cách sử dụng một mắt kính 3D (Hình ?).
não bộ người sẽ tổng hợp nửa. hình ảnh nhận được qua mắt kính thành một đối tong ba (Guedes và cộng sự, 2012; Kmetovd, 2015; Ferdiánová, 2017). Cơ chế sinh học của thị giác não người sẽ cho phép" âm nhận” chiều thứ ba của hình biểu diễn. Khi này, hình vẽ vẫn ở trạng thái tĩnh, bắt động nhưng người 2I ra vẫn cảm nhận được “độ nổi" của hình (Hemmeding & Lemberski, 1008; Kmetovd, 015).
Do thể, chúng tôi gọi ngắn gọn nó trong nghiên cứu này là hình nỗi. Ti rằng, nh năng "hình nổi" này sẽ là một hỗ trợ cần thiết ch nhiễu học sinh không thể "nhìn thấy" đối tượng ba chiều trên hình biểu diễn phẳng. Nồi cách khác, hình nỗi có thể xem như một trung gian cần thiết rong quá trình đọc hình biểu diễn phẳng để hình dung (rực quan hoá) một đối tượng hình học không gian Hình 7, Mắt kính 3D. Thực tai do tăng cường.
“Trong vài thập niên gần đây, các nhà giáo dục đã tìm kiếm, thử nghiệm, cài cắm nhiều công ngi Wg giáo dục. Trong vô vàn những công nghệ khác nhau được ứng dung vào giáo dục thể giới, thực tại ảo tăng cường (augmented reality- AR) là một tròng những công nghệ mới nhất. Cùng với sự tăng trưởng của sức mạnh của điện toán, sự tinh vi của các màn hình, thiết bị nhập liệu và đặc biệt là sự phổ biển của các thiết bị đi động, sự hiệu quả của các ứng dụng phản mềm, công nghệ thực tại ảo tăng cường đã và đang lan toa trong nhiễu lĩnh vực, chẳng hạn như giải trí, công nghiệp, y học, xây dựng, du lịch, quan sy (Azuma, 1997; Hantono và cộng sự, 2018). Trong lĩnh vực giáo dục, nó được nhận định như một công nghệ tiên.
thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu giáo dục và ngày càng có nhiều công bổ về công nghệ này (Adeeb & Han! „2018, Omar và cộng sự, 2019; Saltan & Arslan, 2017) ‘Theo Carmigniani và Furht (2011), lich sử phát triển của thực tại ảo tăng cường có thể kể tử những ÿ tưởng trong điện ảnh cha Morton Heilig về việc thu hút người xem vào các hoạt động trên màn ảnh bằng cách tác động hiệu quả đến tắt cả các giác quan vào những nim 1950s. Nhiều nghiên cứu (Azuma và cộng sự, 2001; Carmmigniani & Furht, 2011; Hantono va cộng sự, 2018) ghi nhận Ivan Sutherland là người đầu tiên đã hoàn chỉnh được một hệ thống với chức năng thực tại ảo tăng cường với việc sử dụng một mũ trang. bj man hinh xuyén théu (optical see-through head-mounted display). Dé da là chuyện vào.
Nhận thẤy tểm năng của thực tại ảo tăng cường, các nhà nghiên cứu và 2 thiết kế đã liên tục cải tiền các hệ thống thực tại ảo tăng cường đ phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, và trong số đó, tất nhiên có lĩnh vực giáo dục. “Trong các công trình nghiên cứu, thuật ngữ “thực tại ảo tăng cường” được. c nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiền cách khác nhau (Wu và cộng sự, 2013. Thôi gian đu, thực tại ảo tăng cường được mô tả như một sự trộn lẫn giữa thực và ảo đựa trên/đi kèm công nghệ.
với sự hỗ Mợ của các thiết bị công nghệ, chẳng hạn như máy tính, thế bị cằm tay (handheld devices), md trang bị màn hình xuyên thấu (head-mounted display),. VỀ các nhà nghiên cứu, tiết kể và giáo dạc học hiểu thuật ngữ này theo một nghĩa rộng hơn Aama (1991), Azuma và cộng sự (2001) xác ip nó, với ý muốn trắnh ói đến một công nghệ đặc thù nào đó, như một hệ thing với ba điễm đặc trưng: kết hợp các đối tượng thực Xà ảo trong một môi trường thực, chạy tương tắc trong thời gian thực, các đối tượng đăng. nhập thực và ảo. Klopfer và Squire (2008) định nghĩa nó như "một tỉnh huồng trong đói bối cảnh thể giớ thực được phủ lê các thông tin áo một cách lĩnh động theo vị tí phù "hợp hoặc bối cảnh cảm giác được” (.
Camigniani và Furht (2011) xem thực tại ảo tăng cường như "một cái nhìn trự tiép và gián tiếp theo thôi gian thực của một thể giới âLí thực đã được gia tăngăng cường bằng cách thêm vào các thông tin ảo được máy tinh quan I (p. Milgram và Kishimo (1994) đặt thục tạ do tăng cường vào một thang phân bậc Thực-Ảo mà ở đồ tỉệ thực cao hơn tỉ lệ “Trong một vải năm gần đây, các thiết bị đi động, chẳng hạn như máy tính bảng và điện thoại thông mình. ngày càng trở nên phổ biển. Để phục vụ thị hiểu người dùng, các nhà sản xuấtliên tục nhỗi nhét vào đồ nhiều tỉnh năng hơn và liên tục ải tiến hiệu năng của chúng.
Chúng trở tranh những nÈn tăng để dựng nên các mg dung đa dạng và triển khai một cách phong phú các dịch vụ. Người sử dụng bây giờ có th ti và cải đặt nhiều ứng dụng theo nhủ cầu cũa mình. Bằng cách cong cắp một sự phiên dịch ba chiễu được tăng cường số hoá của th giới vậtí ắt yến là các nhà sản xuất ngày căng quan tâm đến việc nhúng công nghệ thực tại ảo tăng cường vào các thiết bị di động nhỏ bé trên tay người đăng từ đố, người ta bần đến thuật ngữ "Thục ti áo tăng cường dĩ động" (Mobile augmented realiy). Sánchez-Acevedo và cộng sự (2017) định nghĩa nó như là *thục tại ảo tăng cường được nhận thức thông qua các thiết bị mả người đùng luôn mang theo bên mình” (t.154), Bing cách thiết lập cầu nối giữa các yếu tổ ảo như là những mô hình của các khái niệm toán học trừu tượng với thể giới thực, thực tại ảo tăng cường tỏ ra phù hợp với xu hướng ido duc Tosin thye (Realistic Mathematics Education) với khả năng trực quan hoá, cho.
phép thao tác trên các đối tượng hình học. Do đó, nó có tiềm năng to lớn trong dạy và học hình học. Ngoài ra, một mục tiêu trọng yếu của day học hình học, được nhắc đến trong nhiều hệ thống giáo dục của các quốc gia khác nhau, là năng lục tr duy không gian; một số các nghiên cứu đã chỉ ra sự hữu ích của thực tại ảo tăng cường trong huấn luyện, tăng cường năng lực tư duy không gian của người học (Ali và cộng sự, 2017; Kaufmann va công st, 2005; Kaufmann & Schmalstieg, 2003; Lin và cộng sự, 201). Đặc biệt, nghiên cứu tổng quan của Alnpulluk (2019) trên 58 bài viết trong 8 tập san SSCI tử năm 2016 đến năm 2016, đã chỉ ra sự gia tăng số lượng các bài viết về chủ đề này và các lợi điểm.
giáo dục của công nghệ này, trong đó có trực quan hoá. 'Vào tháng 1/2019, ứng dụng “3D Caleulator" được GeoGebra phat triển trên các thiết bị di dng để thể hiện các đối tượng hình học ba chiều bằng công nghệ thực tại ảo tăng. Hình ảnh thực tại ảo tăng cường trên ứng dung 3D Calculator ” Như các nhà giáo dục đều bit, dạy học với công nghệ chứa đựng nhiễu tiềm năng nhưng cũng là thách thức không nhỏ. Nhiễu nghiên cứu đã lo ngại về năng lực cũng như hiểu biết của các giáo viên đối với việc tích hợp công nghệ trong day hoc (Dockendortt & Solar, 2018).
Hơn thể nữa, các nghiên cứu tổng quan của Bacca và cộng sự (2014) và củn Altinpulluk (2019) cing chi ra sy it oi của các nghiên cứu thực tại ảo tăng cường trong. lĩnh vực đảo tạo giáo viên và Toán học. Trong bối cảnh đó, đỀ tài này giới thiệu một số kết quả ban đầu trong việc hướng dẫn nh viên sư phạm toán tại trường Đại học Sư phạm “Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng tính năng thực tại do tăng cường của GeoGebra. Đào tạo giáo viên dạy học biểu diễn phối cảnh 3.
Bồi cảnh Nội dung day học hình học không gian tại Việt Nam không có nhiễu thay đổi lớn tong nhiễu thập kí gần đây. Thế nhưng, Chương trình Giáo dục phỏ thông môn Toán 2018 bắt dầu thể hiện sự tiếp cận mạnh mẽ với các khuynh hướng dạy học thể giớ với nội đung biểu diễn phối cảnh, bên cạnh những yêu cầu cằn đạt trong dạy học tương tự như các chương trình trước, chương tỉnh mới 2018 để ra một yêu cầu mới “Sử dụng được kiến thức về phép chiều song song để mô tả một số hình ảnh trong thực tiễn” (:98) trong dạy học hình học không an lớp I1. Luận án của Tăng (2014) chỉ ra rằng có bổn cách tiếp cận để chuyển một đối tượng ba cl sang hình vẽ: quan sát, phép chiếu, quy. tắc biểu diễn, hình u.
Trong đó, "quan sát” là một cách thức biến đổ từ nhận thức hình. ảnh của một đối tượng vật lí tong sự pha trộn v tình học không gian, và di là cích tiếp cận tự nhiên và quen thuộc với học sinh ngay từ nhỏ (Douady, 1998); *phép chiếu” 6 thé được xem như cơ sở toán học của biểu diễn phối cảnh. Theo Niss (1998), mắt người bị chỉ phối bởi các quy luật và tính chất hình học. Cụ thé hon, Bartolini Bussi & 'Boero (1998) cho rằng với sự hướng dẫn của giáo viên.
những quan sát (thực) mang trên Hình chụp và những quy tắc vẽ trong đời thường dần hình thành nên phép chiếu xuyên tâm. Thể nhưng, đây không phải là phép chiếu song song, như là yêu cầu của chương trình 2018. Cũng theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm về đọc hình vẽ của Tăng (2014), tất ít học sinh Việt Nam lớp 11 giải thích hình vẽ bằng phép chiếu song song. Từ điểm này, yêu cầu nói trên của chương trình mới đặt ra thách thức cho việc dạy học hình học 25 không gian: làm thể nào đ học inh chuyển từ "quan sắt” sang "phép chiều song song” khi *mô tả một số hình ảnh trong thực tiễn” Thiết í giáo dục mới ti nhiều nước đồi hỏi chuyển đổi vai trồ học tập của học sinh từ người tiếp nhận thụ động sang người sản xuất và thậm chí là nhà nghiên cứu; đồng thời dạy học không chỉ đơn giản là sự truyền thụ kiến thức mã người học cẳn phải được tham iu giã quyết các vẫn để đoán học) (Canilo và cộng sự, 1999; Keiner, 1999).
Các nhà io dục đều đồng thuận với nhau về tằm quan trọng của giáo viên trong tiến tình day/học (xem Mammana & Villani, 1998).