CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu Thế giới đang bước vào kỉ nguyên chuyến đổi số - quá trình gắn liền với việc ứng dụng công nghệ số vào mọi mặt của đời sống xã hội. Bối cảnh đó đòi hởi người học phát triển các năng lực cần thiết để có thể thành công trong môi trường học tập và làm việc sau này. Vậy nên, phát triển năng lực nói chung và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin nói riêng đang là chủ đề được nhiều học giả nghiên cứu.
Các tài liệu, công trình nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu về năng lực trong giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, vì thế đà có nhiều tác phấm nghiên cứu được công bố về chủ đề này. Howard Gardner, một Giáo sư Tâm lý học tại Đại học Harvard (Mỹ) (1996), đã đưa ra khái niệm về năng lực thông qua việc phân tích bảy khía cạnh của trí tuệ con người: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, thề chất, giao tiếp và nội tâm. Để giải quyết một vấn đề, con người cần kểt họp nhiều khía cạnh của trí tuệ, điều này tạo ra năng lực cá nhân. Gardner kết luận rằng năng lực phải được thế hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thế đánh giá được.
Seung Youn Chyung và đồng nghiệp (2006) cũng đã nhấn mạnh rằng giáo dục truyền thống tập trung vào việc tích luỹ kiến thức và sự phát triến của năng lực nhận thức, cũng như việc áp dụng kiến thức vào thực hành kỹ năng, thay vì chứng minh khả năng đạt được. Trái lại, giáo dục phát triển năng lực tập trung vào việc phát triển các năng lực cần thiết để học sinh có thể thành công trong cuộc sống và công việc. Do đó, có thể khẳng định rằng dạy học theo hướng phát triển năng lực là một xu hướng không thể tránh khỏi. 5 Ngày nay, khi công nghệ đang thâm nhập vào mọi khía cạnh của đời sông xã hội, năng lực số là một trong những yếu tố sẵn sàng quan trọng (Blayone, 2018), là năng lực thực hành quan trọng nhất (Rawda Ahmed Omer, 2016), là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc duy trì học tập và kết quả học tập đầu ra của người học trong môi trường học tập số (Florence et al., 2020; Parkes et al.
Tác giả Jae-Hee Chang và Phu Huynh trong Báo cáo thường niên về chuyển đổi số của các nước thành viên ASEAN (2016) khẳng định các chính phủ cần có những hành động đế thích ứng với nhừng tác động từ chuyển đổi số đến nền kinh tế; trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò của Giáo dục và Đào tạo đến năng lực số của nguồn lao động nhằm đáp ứng những thay đổi trong nhu cầu về nhân lực của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Ngoài ra, trong báo cáo của Quỹ Thanh niên ủc (2019), tác giả Pangrazio đã chỉ ra rằng trong giai đoạn trước COVID - 19, nhu cầu cũa các nhà tuyển dụng về nguồn lao động có năng lực số tăng lên 200% và được dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh chóng. Chính vì vậy, các quốc gia và tổ chức đã và đang triển khai chuyển đổi số, đồng thời đưa ra các khung đánh giá năng lực số cho các đối tượng khác nhau. Giáo dục và Đào tạo không nằm ngoài xu thế chung của thời đại công nghệ 4.
Asma Ali Mosa và các cộng sự (2016) nhận định: “Sở hữu năng lực tốt giúp người học có khả năng diễn giải và hiểu biết về học tập trực tuyến cao hơn”. Hơn nữa, năng lực số cũng giúp người học tiến bộ trong học tập, trong cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp, xử lý tốt các tình huống phối hợp làm việc trong môi trường ảo (Gunawardena và các cộng sự, 2001) và thực hành tốt hơn trong giáo dục trực tuyến (López Meneses và các cộng sự, 2020). Không chỉ vậy, năng lực số được xem là điều kiện tiên quyết để có thể học tập và làm việc trong môi trường giáo dục mở và toàn cầu hiện nay (ACODE, 2014). Năng lực số cũng được thừa nhận là một trong các năng lực cốt lồi quan trọng để học tập 6 suốt đời (European Commission, 2018).
Chính vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học trong trường học đã không còn là vấn đề xa lạ, mà trong đó môn Toán cũng khồng ngoại lệ bởi “Phần mềm hỉnh học động và các thao tác động có khả năng tạo ra một cách tiếp cận mới trong việc dạy - học Toán” (Dadang Juandi và các cộng sự, 2020). Theo Pannen Paul (2014), tích hợp của việc dạy và học, công nghệ thông tin đóng vai trò rất thiết yểu, cho phép học sinh trải nghiệm tiết học Toán trong hứng thú bởi tính năng động của các đối tượng hình học. Các tài liệu, công trình nghiên cứu ở trong nước Trong những năm gần đây tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu đà và đang tiếp cận với xu hường chung của thế giới trong lĩnh vực giáo dục. Các tác giả Trần Đức Hòa và Đồ Văn Hùng, trong “Khung năng lực số cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh chuyên đổi sổ” (2021) đã nghiên cứu khung năng lực số và xây dựng chương trình đào tạo năng lực số cho sinh viên ở Việt Nam, đồng thời nhận định việc xây dựng một khung năng lực số là nhu cầu tất yếu, các nhóm nãng lực thành phần trong khung năng lực số đã được định hình khá rõ ràng, tuy nhiên có những khác biệt xuất phát từ cách tiếp cận và bối cảnh đặc thù mà khung năng lực đó sẽ được áp dụng.
Trong trường hợp Việt Nam, cần hướng đến xây dựng một khung năng lực số kế thừa được kết quả từ những khung năng lực và các chương trình, dự án đã được triển khai trên thế giới. Các tác giả cũng kiến nghị đối với các nghiên cúu sau, cần có một khung năng lực số chi tiết để làm cơ sở đề xuất các chương trình đào tạo năng lực số tích hợp vào các bậc đào tạo ở Việt Nam. Tác giả Lê Thái Hưng và các cộng sự (2022) đã chỉ ra rằng: “Thế hệ trẻ ngày nay (“thế hệ gen Z”) đang đứng trước những thách thức, thời cơ lớn trong bối cảnh công nghệ phát triển như vũ bão. Đây là đối tượng được trực tiếp trải nghiệm, sống, làm việc và trở thành công dân số, công dân toàn cầu.
Do vậy, 7 việc đào tạo nên các thê hệ sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, hình thành được năng lực số cần được triển khai ngay từ độ tuổi học sinh. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nền tảng công nghệ đóng vai trò to lớn đế duy trì hoạt động dạy và học”. Đồng thời, các tác giả cũng đã đưa ra một số vấn đề lí luận về năng lực số, đề xuất khung năng lực số của học sinh cấp trung học co sở trong quá trình học tập trực tuyến. Tác giả Nguyễn Tấn Đại và cộng sự, trong “Năng lực công nghệ số đáp ứng nhu cầu xã hội: Các mô hình quốc tế và hướng tiếp cận tại Việt Nam” (2018), đã đưa ra định hướng đánh giá năng lực công nghệ số tại Việt Nam, đề xuất cần thay đổi về cách tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin theo hướng chọn điếm xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội, xác định các năng lực then chốt của người học và người lao động với việc sử dụng công nghệ số.
Tác giả Mai Anh Thơ và các cộng sự trong “Khung năng lực sổ cho sinh viên đại học: Từ các công bổ gợi mở hướng tiếp cận cho Việt Nam ” (2021) đà khẳng định trong bối cảnh thế giới phắng như hiện nay, Việt Nam cần kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, phân tích và lựa chọn, điều chỉnh cho phù họp với bối cảnh riêng. Các tác giả cũng đưa ra những đề xuất về các hướng tiếp cận về khung năng lực số cho sinh viên trong giáo dục đại học tại Việt Nam. Tác giả Lê Anh Vinh và các cộng sự, trong “Xây dựng khung năng lực số cho học sinh phô thông Việt Nam ” (2021), đã nhận định chuyển đổi số trong giáo dục cần phải chú trọng đào tạo phát triển năng lực số cho người học và cần được thực hiện càng sớm càng tốt. Trong nghiên cứu đã đưa ra khung năng lực số cho đối tượng học sinh ở Việt Nam và mô tả rõ khung năng lực với đối tượng học sinh tiểu học.
Đối với phần mềm Geogebra, trong thực tế, đã có những nghiên cứu về phần mềm GeoGebra ứng dụng trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay như: Đồng tác giả Nguyễn Đăng Minh Phúc và Huỳnh Minh Sơn thiết kế phép dựng hình 8 mềm trong dạy học Toán cho học sinh ở trường phổ thông bàng phần mềm GeoGebra, tác giả Vũ Thị Phương đã “sử dụng GeoGebra thiết kế sản phẩm phục vụ cho việc củng cố lí thuyết hình học”,. Tác giác Bùi Minh Đức (2017) đã khẳng định phần mềm Geogebra có thể hỗ trợ kiểm nghiệm các phán đoán và khám phá lời giải của các dạng toán hình học không gian ờ trung học phổ thông. Tác giả Nguyễn Ngọc Giang và các cộng sự (2023) đã chỉ ra phần mềm Geogebra giúp học sinh có cái nhìn trực quan, sinh động và có ưu thế hơn hẳn so với cách dạy học truyền thống bảng đen, phấn trắng thông thường. Từ các công trình nghiên cứu nêu trên, có thế thấy các nghiên cứu thường chỉ xét về năng lực nói chung và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh.
Ngoài ra chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thế về năng lực ứng dụng công nghệ thông tin cho đối tượng học sinh THPT, đặc biệt là trong quá trình dạy học môn Toán nói chung và dạy học Hình học không gian lớp 11 nói riêng - một chủ đề thường xuyên phải cần đến sự hỗ trợ của các phần mềm CNTT. Do đó, đây là cơ sở để luận văn triển khai về việc ứng dụng công nghệ thông tin cho học sinh trong chủ đề Hình học không gian lớp 11. Trong phạm vi luận văn tập trung nghiên cứu về việc ứng dụng phần mềm Geogebra để phát triển năng lực CNTT. Co’ sở lí luận 1.
Lý luận về năng lực ỉ. Năng lực Hiện nay, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa cho khái niệm năng lực. 9 Trong Từ điển Tiếng Việt, năng lực được hiểu là “phâm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó vói. chất lượng cao” .