chương 1, chúng tôi đã thực hiện được các công việc sau: 1. Tìm hiểu một số luận văn của các tác giả có liên quan đến đề tài. Từ đó cho thấy để bồi dưỡng học sinh trung bình, yếu đòi hỏi phải có nhiều thời gian, tâm huyết. Làm rõ các khái niệm có liên quan như: Khái niệm dạy, khái niệm học, các quy luật học tập để làm sáng tỏ cơ sở lí luận.
Đã phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập, từ đó áp dụng được những biện pháp bồi dưỡng học sinh trung bình, yếu một cách phù hợp. Đã đưa ra các vấn đề liên quan dẫn đến học sinh học trung bình, yếu môn hóa như: khái niệm, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến học yếu. Điều tra thực trạng học sinh trung bình, yếu ở một số trường THPT TP.HCM, từ đó tìm ra hướng để vận dụng các biện pháp bồi dưỡng học sinh trung bình, yếu môn hóa cho phù hợp. Tổng quan về chương trình hóa học lớp 11 cơ bản THPT.
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU HỌC TỐT MÔN HÓA 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU MÔN HÓA Có rất nhiều cơ sở để xây dựng các biện pháp giúp học sinh trung bình, yếu học tốt hơn, như: các kiến thức về tâm lý giáo dục (chỉ số thông minh, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh,…); các nguyên nhân dẫn đến học yếu; ý kiến của các chuyên gia, đồng nghiệp; hay thực trạng về học sinh trung bình, yếu ở các trường phổ thông. Sau đây chúng tôi xin phân tích những cơ sở đặc trưng nhất. Chỉ số thông minh (IQ) [18], [19] 2.
Chỉ số thông minh (IQ) là gì ? Theo Wikipedia thì “chỉ số thông minh”, hay IQ (viết tắt của intelligence quotient trong tiếng Anh), là một khái niệm được nhà khoa học người Anh Francis Galton đưa ra trong cuốn sách Hereditary Genius xuất bản vào cuối thế kỷ 19. Sau đó, nó được học trò của ông là J.Cattell và nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet phát triển bằng việc thảo ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ của trẻ khi đi học. Binet nhận thấy rằng có mối liên hệ giữa khả năng học của một học sinh với kết quả bài trắc nghiệm của ông. Sau đó không lâu, nhà tâm lý học người Mỹ Giáo sư Lewis Terman (Giảng viên trường đại học Standford) đã phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford- Binet; nó nhanh chóng trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ, bùng phát mạnh vào năm 1917 khi nước Mỹ bước vào chiến tranh thế giới thứ nhất.
Trong thế kỉ 20, chỉ số IQ trung bình của con người tăng lên một cách rất chậm: đó được gọi là hiệu ứng Flynn. Nhưng chúng ta vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn những sự thay đổi đó thể hiện chính xác sự thông minh dần thêm của con người. Trung bình chỉ số IQ trong một đời người hầu như không tăng hay giảm. Tuy nhiên vẫn có một ít người trải qua những sự thay đổi rất lớn.
Ví dụ như trong một số tài liệu, một số chứng bệnh ảnh hưởng học tập có thể ảnh hưởng gây giảm chỉ số IQ rất lớn (Shaywitz, 1995). Theo thạc sĩ tâm lý Lý Minh Tiến - phó trưởng khoa Tâm lý Giáo dục Trường Đại học Sư PhạmTP.HCM, thì “IQ là ký hiệu lấy hai chữ cái đầu của từ tiếng Anh là “Intelligence Quotient”, thường dịch là thương số trí tuệ hay còn gọi là chỉ số thông minh. Chỉ số này của mỗi người nói lên năng lực trí tuệ của người đó”. Chỉ số thông minh, hay IQ (viết tắt của intelligence quotient trong tiếng Anh), là một con số được xác định ở mỗi người sau khi hoàn tất một bộ kiểm tra.
Bài kiểm tra đó xác định khả năng hoàn thành một số nhiệm vụ mà những người sống trong một xã hội thường gặp, và từ đó xác định khả năng học hỏi và lặp lại những cách "sử dụng trí thông minh". Dưới đây là bảng giải thích ý nghĩa từng nhóm điểm IQ. Giải thích các loại IQ Khoảng điểm IQ Mô tả ý nghĩa Tỷ lệ % trong dân số 40 – 55 Rất kém 0.13% 55 – 70 Chậm phát triển tâm thần 2,14% 70 – 85 Kém thông minh 13,59% 85 – 115 Trí tuệ bình thường 68,26% 115 – 130 Thông minh 13,59% 130 – 145 Trí thông minh cao (có tài) 2,14% 145 – 160 Thiên tài 0,13% Nhà tâm lý học người Mỹ, L. Ông cho rằng trí thông minh gồm 7 nhân tố: V = sự lĩnh hội ngôn từ (vebal comprehension).
W = hoạt bát ngôn ngữ (word fluency). N = khả năng vận dụng tài liệu chữ số (Number). S = năng lực không gian (space). R = khả năng suy luận (reasoning).
Học sinh trung bình, yếu thường có chỉ số IQ nằm trong khoảng từ 70 đến 85. Mối quan hệ giữa IQ và thành tích học tập [14], [36], [37] Từ khi trắc nghiệm IQ được phát triển và lần đầu tiên đưa vào sử dụng trong nhà trường, tính giá trị của chúng được nghiên cứu rộng rãi nhất trong việc đo lường sự tương quan giữa IQ với các điểm số đạt được ở các trắc nghiệm chính thức chuyên biệt về đọc hiểu hay toán học. Một số trắc nghiệm khác dựa vào kết quả đo lường tổng quát về thành tích học tập như kết quả thi cử (ở Anh) hoặc trình độ cấp học (ở Mỹ). Một số nghiên cứu cho thấy biết sự tương quan giữa IQ với khả năng học hết trung học hay lên đại học của học sinh (khả năng này được tính bằng tổng số năm được thụ hưởng giáo dục học đường).
IQ tương quan thuận với cấp học, với kết quả trắc nghiệm đọc hiểu, hiểu biết toán học và với nhiều nội dung học thuật khác (Lsvin 1965). Nghiên cứu sự tương tác giữa sự biến thiên trong giáo dục và sự khác biệt ở cá nhân về năng lực, năng khiếu (Cronbach, Snow, 1977) cũng rút ra kết luận rằng: Trí thông minh tổng quát hầu như luôn tương quan thuận với các kết quả đo lường kết quả học tập các môn khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn [37]. Nghiên cứu của Jencks, 1972 và Mc Call, 1977 cho thấy có sự tương quan ý nghĩa (≈0,06) giữa IQ với tổng số năm đi học và giữa IQ với các phẩm chất giáo dục (0,4-0,5). Ví dụ, ở Mỹ, trung bình IQ của những người tốt nghiệp trung học và những người bỏ học trước khi tốt nghiệp trung học chênh lệch nhau 10-15 điểm.
Sự khác biệt này cũng xảy ra tương tự giữa những người tốt nghiệp trung học và những tiếp tục theo học cao đẳng, đại học (Hearnstein và Muray, 1994) [36, tr. IQ đạt được tại điểm khởi một giai đoạn học tập có khả năng tiên đoán thành tích học tập. Nói cách khác, IQ đạt được ở một độ tuổi nhất định có thể dự báo thành tích học ở độ tuổi sau (Venon, 1947, Mackintosh, Mácie-Taylor, 1986). IQ cũng có thể tiên đoán số năm được thụ hưởng giáo dục mà cá nhân có thể đạt được.
Các nghiên cứu theo chiều dọc ở Mỹ đã chỉ ra rằng hệ số tương quan giữa IQ với tổng số năm đi học của trẻ 7 tuổi là 0,40, trẻ 11 tuổi là 0,50 (Jencks, 1972, Mc Call, 1977) [36, tr. Một điểm cần lưu ý là mối uan hệ giữa IQ với thành tích học tập là mối quan hệ tương hỗ. Điểm IQ có thể thay đổi nhằm đáp ứng những cơ hội học tập giành cho cá nhân. Bằng chứng là: - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của Phương pháp giao việc cho học sinh trong một nội dung học tập dành cho học sinh cấp 2 để chuẩn bị giáo dục đại học hoặc để hướng nghiệp cho sinh viên ở Thụy Điển (Hảnqvist, 1968) cho thấy sự giao việc cho một nội dung học tập cũ làm tăng điểm IQ so với giao việc cho một nội dung học tập cuối cấp [37, tr.
- Việc đến trường học giúp học sinh tăng IQ của mình: càng nghỉ học sớm thì nguy cơ thua kém về IQ so với các bạn cùng trang lứa càng tăng. Nghiên cứu tại Nam Phi và Mỹ cho thấy mỗi năm trì hoãn đi học, IQ của trẻ giảm 5 điểm [14]. Qua phân tích người ta thấy người có IQ cao có thể đọc nhiều hơn những người có IQ thấp, đồng thời họ có thể lưu giữ nhiều hơn những thứ mà họ đọc được. Họ cũng có khả năng tốt hơn trong việc tổ chức thông tin.
Nói cách khác, sự đa dạng trong việc thể hiện và lưu giữ kiến thức có thể góp phần vào mối quan hệ thuận lợi giữa kiến thức và IQ [37, tr. Đặc điểm tâm, sinh lý đặc trưng của học sinh trung bình, yếu [21], [25] Từ “bảng 1: Giải thích các loại IQ”, ta có thể rút ra IQ của học sinh trung bình, yếu thường nằm trong khoảng từ 70 đến 85 và các học sinh này có một số đặc điểm chung sau: - Về nhận thức, khâu đầu tiên dễ thấy nhất là các em rất hay quên. Khối lượng ghi nhớ, các thuộc tính và quá trình ghi nhớ đều có chỉ số thấp hơn so với tuổi. Trí nhớ máy móc khá phát triển nên HS thường hay học vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức.
- Tiếp thu bài rất lâu nhưng lại rất nhanh quên, song những điều đã ghi nhớ được thì lại nhớ rất bền lâu. - Tư duy của các em chỉ đạt ở mức trực quan - hình ảnh. Kiến thức thu được dễ dàng nhất trên cơ sở vật thể cụ thể hoặc hình ảnh các sự vật. - Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
- Yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết. - Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. - Khả năng tự điều chỉnh hành vi, lập chương trình hành động, hoạch định công việc kém. Vì thế học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập.
Để các em đạt được một chút thành tích nào đó trong học tập thì phải nhờ sự kèm cặp, theo dõi sát sao của người lớn.Vì thế giáo viên và phụ huynh phải luôn theo sát để kiểm tra, đôn đốc kịp thời. - Khi làm việc, các em nhanh chóng mệt mỏi. Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng không bền. - Đặc điểm khá nổi bật là các em rất thích được khen.