mở đầu cho thời kì “Hậu phương pháp” (Post - method) trong giảng dạy ngoại ngữ. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trên quan điểm ngữ pháp giao tiếp là ngữ pháp của lời nói, đƣợc trình bày trên các phƣơng diện: hình thức, ý nghĩa và sử dụng (Larsen-Freeman, Fotos, Ellis,…), đƣợc giảng dạy thông qua hội thoại/tình huống, thực hành nhiệm vụ kết hợp thực hành kĩ năng (Oscar R. Ngữ pháp giao tiếp có nguồn gốc từ định hƣớng giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ, hƣớng tới mục đích nâng cao năng lực giao tiếp (communicative competence), và đƣợc đánh giá: “phát triển kĩ năng của sinh viên trong việc hiểu và tự thể hiện đƣợc bản thân bằng ngoại ngữ; nuôi 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dƣỡng thái độ học tập tích cực theo hƣớng giao tiếp bằng ngoại ngữ; và nâng cao niềm đam mê của sinh viên với một ngôn ngữ và một nền văn hóa, qua đó đào sâu hơn những tầm hiểu biết mang tính quốc tế” [Savignon, 2001, tr. Ứng dụng quan điểm giao tiếp khi giảng dạy hành động ngôn từ, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: giảng dạy hành động ngôn từ phải gắn liền với ngữ cảnh và tình huống.
Cohen(1996) coi trọng vai trò của ngữ cảnh khi giảng dạy, thể hiện trong nghiên cứu “Speech acts in second language learning contexts”. Mier (2003) chỉ ra mục đích giảng dạy hành động ngôn từ hiện nay là nâng cao sự hiểu biết của ngƣời học về “ngữ dụng, văn hóa và các chiến lƣợc giao tiếp”. Đó cũng chính là vấn đề nâng cao năng lực giao tiếp cho ngƣời học thông qua giảng dạy ngữ pháp giao tiếp. Từ cơ sở ngôn ngữ học chức năng và quan điểm giảng dạy ngữ pháp giao tiếp, các hành động ngôn từ, đặc biệt là HĐCK,xuất hiện hầu hết trong các giáo trình dạy ngoại ngữ (phổ biến là tiếng Anh).
Đối với những giáo trình dạy tiếng Anh giao tiếp, HĐCK đƣợc sắp xếp giảng dạy chính thức trong chƣơng trình học, các HĐCK nhƣđề nghị, yêu cầu, khuyên, mời,… đƣợc thiết kế là mục tiêu bài học, các đơn vị ngữ pháp cấu thành HĐCK đƣợc lựa chọn phục vụ thực hiện các chức năng cầu khiến,đƣợc giảng dạy thông qua hội thoại/tình huống, kếp hợp thực hành kĩ năng ngoại ngữ. Có thể kể đến một số bộ giáo trình nổi tiếng nhƣ: Streamline English (Bernard Hartley - Peter Viney), New Headway (Soars Liz - John), Practical English Usage (Michael Swan),Face2Face (Chris Redston - Gillie Cunningham - Jan Bell)…Ví dụ: Giáo trình Streamline English (Connections), xuất bản lần đầu năm 1979, đƣợc biên soạn trên cơ sở các hoạt động lời nói và các chủ điểm giao tiếp. Trong chủ điểm 38, chủ đề giao tiếp là Advice (Khuyên nhủ) và đơn vị ngữ pháp mục tiêu là should/shouldn’t. Sau khi ngƣời học làm quen với cách sử dụng của should/shouldn’t trong hội thoại, họ lại đƣợc tiếp tục củng cố kiến thức bằng các bài luyện tập ngôn ngữ và các bài tập tình huống (Ví dụ: Hãy sử dụng should/shouldn’t để khuyên nhủ bạn trong các tình huống sau: Bạn của anh/chị muốn giảm cân; Một ngƣời nƣớc ngoài muốn học ngôn ngữ của anh/chị; …).
Phần chú giải ngữ pháp đƣợc thiết kế riêng để ngƣời học dễ dàng đọc hiểu. Đối với những giáo trình dạy ngữ pháp tiếng Anh, các đơn vị ngữ pháp cấu thành HĐCK đƣợc trình bày mặt hình thức, giới thuyết ý nghĩa, mục đích cầu khiến rõ ràng, kèm theo hƣớng dẫn sử dụng cụ thể(Ví dụ: ngữ pháp giao tiếp tiếng Anh 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảng dạy HĐCK qua thức mệnh lệnh, các động từ “can, could, may” đƣợc diễn giải với ý nghĩa sử dụng của chúng là cấu tạo lời cầu khiến/lời cầu khiến lịch sự).Hệ thống bài tập thực hành ngữ pháp rất đa dạng, bao gồm các dạng bài tập tạo lập, củng cố cấu trúc ngữ pháp và các dạng bài tập sản sinh, bài tập tri nhận giúp ngƣời học rèn luyện kĩ năng sử dụng các đơn vị ngữ pháp vào tình huống giao tiếp. Có thể kể đến một số bộ giáo trình dạy ngữ pháp giao tiếp nhƣ: Communicative grammar practise (Leo Jones),Active Grammar (Fiona Davis- Wayne Rimmer), Essential Grammar in Use (Raymond Murphy), Living grammar (Ken Paterson), Student Grammar of Spoken and Written English (Douglas Biber). Mặc dù mục tiêu bài học của các giáo trình là ngữ pháp nhƣng cách giải thích ngữ pháp luôn gắn với mục đích giao tiếp và tƣơng tự nhƣ giáo trình dạy giao tiếp, hệ thống bài tập thực hành ngữ pháp theo tình huống và nhiệm vụ rất phong phú.
Đặc biệt, các chỉ dẫn văn hóa - xã hội rất đƣợc các giáo trình chú ý khi giảng dạy mặt sử dụng của đơn vị ngữ pháp. Nhƣ vậy, trên thế giới, ngữ pháp giao tiếp và ứng dụng ngữ pháp giao tiếp vào giảng dạy hành động ngôn từ, HĐCK đã đƣợc nghiên cứu ở cả phƣơng diện lí luận cũng nhƣ đƣa vào thực tiễn giảng dạy. Đặc biệt,trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, mục đích học ngoại ngữ để giao tiếp trở nên cần thiết hơn hết, nâng cao năng lực giao tiếp của ngƣời học đƣợc quan tâm hàng đầu. Giảng dạy ngữ pháp giao tiếp chính là cách thức giúp nâng cao năng lực giao tiếp một cách hiệu quả và toàn diện.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Những vấn đề về ngữ pháp và giao tiếp nói chung đã đƣợc đề cập từ khá lâu trong giáo dục học cũng nhƣ ngôn ngữ họctại Việt Nam. Giáo dục học vận dụng lí thuyết giao tiếp trong dạy và học ngoại ngữ (phổ biến là tiếng Anh), dạy và học tiếng Việt, ngữ văn (cho học sinh Việt Nam trong trƣờng phổ thông).Ngôn ngữ với tƣ cách là ngành khoa học cơ bản, trực tiếp liên quan và cung cấp những vấn đề khoa học về ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm hành chức. Quan trọng nhất là sự phát triển của Ngữ dụng học những thập niên cuối thế kỉ XX với các kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ trong mối quan hệ với giao tiếp và những vấn đề cụ thể về lí thuyết hội thoại nhƣ: Giản yếu về Ngữ dụng học, Đại cương ngôn ngữ học (Đỗ Hữu Châu), Ngữ dụng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp), Ngữ dụng học (Đỗ Thị Kim Liên), Giao tiếp - Diễn ngôn và cấu tạo văn bản (Diệp Quang Ban), …Những nghiên cứu 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này có ảnh hƣởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, bao gồm ngữ pháp. Ở Việt Nam, dạy và học tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữcó lịch sử lâu dài.
Đến những năm 50 của thế kỉ XX, các mối quan hệ quốc tế trong chiến tranh làm tăng nhu cầu dạy và học tiếng Việt. Cho đến nay, hệ thống các trƣờng đại học, các trung tâm có đào tạo tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã đƣa tiến trình giảng dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ chính thức trở thành một ngành khoa học chuyên môn. Mục đích học để giao tiếp là mục đích quan trọng và phổ biến nhất của ngƣời nƣớc ngoài ở Việt Nam. Những vấn đề chung của cách tiếp cận giao tiếp và sự vận dụng chúng vào dạy học tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã luôn đƣợc quan tâm, nhất là từ những năm 1990 trở lạiđây.
Các nghiên cứu đều có điểm chung làphân biệt ngữ pháp lí thuyết và ngữ pháp thực hành, ngữ pháp lời nói tronggiảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ. Đinh Văn Đức với loạt bài nghiên cứu: “Vài suy nghĩ bước đầu về ngữ pháp lí thuyết và ngữ pháp thực hành trong việc dạy tiếng Việt”(1991), “Ngữ pháp chức năng giúp gì cho việc dạy tiếng Việt ở nước ta” (1997),chỉ ra rằng ngữ pháp trong giảng dạy ngoại ngữ là ngữ pháp của lời nói và có mối liên hệ với ngữ pháp chức năng trong ngôn ngữ học. Các đơn vị ngữ pháp nên đƣợc giảng dạy trên các phƣơng diện: hình thức, ý nghĩa và sử dụng. Tác giảcho rằng: “Ngôn ngữ là một thiết chế xã hội, ngƣời ta hiểu nhƣ một thiết chế chặt chẽ của các quy tắc, quy ƣớc cộng đồng bản ngữ, trong đó, mỗi ngƣời tự nguyện tham gia.
Tuy nhiên, các quy tắc đó chƣa đủ đảm bảo để ngƣời ta hiểu đúng nhau. Một câu nói, một phát ngôn chỉ có thể hiểu đúng trong một tình huống nhất định, trong một bối cảnh nhất định, trong một điều kiện nhất định. Nghĩa là mỗi câu phải ứng với một tình huống giao tiếp cụ thể” [Đinh Văn Đức, 2012, tr. Đây đƣợc xem là một cơ sở cho việc xây dựng các tình huống giao tiếp trong dạy học tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ.Trong giáo trình “Ngôn ngữ học ứng dụng”, Đinh Văn Đức và nhóm tác giả đã khẳng định: “ngôn ngữ sách giáo khoa cũng liên thông với ngôn ngữ khoa học và công nghệ, phong cách văn bản khoa học, từ vựng và ngữ pháp giao tiếp (Communicative Grammar)” [Đinh Văn Đức- Nguyễn Văn Chính-Đinh Kiều Châu, 2016, tr.
Mai Ngọc Chừ(2001) trong bài viết “Quan điểm giao tiếp - thực tiễn trong việc viết giáo trình tiếng Việt và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở giai đoạn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu” nhấn mạnh việc thiết kế giáo trình phải tính đến các mục đích giao tiếp của ngƣời học, đáp ứng các nhu cầu giao tiếp thực. Vũ Thị Thanh Hƣơng có bài “Dạy ngữ pháp theo cách tiếp cận giao tiếp”, cho rằng: “trọng tâm của cách tiếp cận giao tiếp là phát triển năng lực giao tiếp cho ngƣời học” và “cách tiếp cận giao tiếp coi ngữ pháp là một thành tố cấu thành năng lực giao tiếp” [Vũ Thị Thanh Hƣơng, 2007, tr. Trong nghiên cứu “Dạy ngữ pháp như một ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp”, Nguyễn Hồng Cổn cũng trình bày khá rõ về phƣơng pháp giao tiếp, những ƣu điểm và cách dạy ngữ pháp theo phƣơng pháp giao tiếp: “phƣơng pháp giao tiếp cho rằng, trong dạy ngoại ngữ, ngữ pháp không nên đƣợc dạy nhƣ là kiến thức ngôn ngữ học thuần túy mà nhƣ là phƣơng tiện để ngƣời học tiếp nhận và tạo lập các diễn ngôn và văn bản” [Nguyễn Hồng Cổn, 2012, tr. Nguyễn Thiện Nam có nhiều nghiên cứu cụ thể về giảng dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ, ngữ pháp giao tiếp đƣợc đề cập đến trong: “Một vài suy nghĩ về khái niệm ngữ pháp trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” (2001).
Tiếp đó, trong nghiên cứu “Số phận của Ngữ pháp trong tiến trình dạy tiếng - Một vài liên tưởng vào sách dạy tiếng Việt” (2010), tác giả cũng phân tích vị trí của ngữ pháp trong tiến trình dạy tiếng tại Việt Nam. Cụ thể, giai đoạn hiện nay là giao tiếp trên nền tảng ngữ pháp với xu hƣớng “Focus on form” (Long M.), đem lại đóng góp thực tiễn đáng kể.