Luận Án Tiến Sĩ Về Ứng Dụng Ngữ Pháp Giao Tiếp Trong Giảng Dạy Tiếng Việt Cho Người Nước Ngoài

Luận án tiến sĩ khám phá ứng dụng ngữ pháp giao tiếp trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tập trung vào hành động cầu khiến.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

201
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Câu hỏi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phạm vi nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận án

0.7. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.4. Năng lực giao tiếp

1.5. Lí thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai

1.6. Ngữ pháp giao tiếp

1.7. Lí thuyết hành động ngôn từ và lí thuyết hội thoại

1.8. Hành động cầu khiến tiếng Việt

1.9. Giảng dạy hành động cầu khiến tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp giao tiếp

1.10. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT NỘI DUNG NGỮ PHÁP GIẢNG DẠY CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG CÁC GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT

2.1. Khái quát về sự thể hiện của ngữ pháp trong các giáo trình

2.2. Giáo trình Tiếng Việt cho người nước ngoài (VSL)

2.3. Giáo trình Thực hành tiếng Việt (THTV)

2.4. Giáo trình Tiếng Việt dành cho người nước ngoài (TVDCNNN)

2.5. Các phương tiện biểu hiện hành động cầu khiến trong phần ngữ pháp

2.6. Mặt hình thức và cách giải thích ý nghĩa, sử dụng của các phương tiện biểu hiện HĐCK

2.7. Bảng tổng kết các phương tiện biểu hiện HĐCK trong việc hình thành mục đích cầu khiến

2.8. Sự phân bố các phương tiện biểu hiện HĐCK theo trình độ

2.9. Việc giảng dạy các phương tiện biểu hiện hành động cầu khiến trong phần hội thoại và thực hành kĩ năng

2.10. Số lượng các phương tiện biểu hiện HĐCK trong hội thoại giảng dạy và chủ đề/mục đích giao tiếp của bài học

2.11. Số lượng các phương tiện biểu hiện HĐCK trong hội thoại/tình huống nói chung

2.12. Các phương tiện biểu hiện HĐCK với việc hình thành HĐCK trong hội thoại/tình huống và mặt sử dụng của HĐCK

2.13. Nội dung giảng dạy các phương tiện biểu hiện HĐCK trong phần ngữ pháp

2.14. Nội dung giảng dạy các phương tiện biểu hiện HĐCK trong phần hội thoại và thực hành kĩ năng

2.15. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ THỬ NGHIỆM NỘI DUNG GIẢNG DẠY HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG CÁC GIÁO TRÌNH TIẾNG VIỆT THEO QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP GIAO TIẾP

3.1. Phần thiết kế thử nghiệm

3.2. Phần trình bày nội dung ngữ pháp

3.3. Phần giảng dạy nội dung ngữ pháp

3.4. Phần khảo sát và thực nghiệm

3.5. Các bước thực hiện

3.6. Kết quả khảo sát và thực nghiệm

3.7. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng ngữ pháp giao tiếp trong dạy tiếng Việt

Ngữ pháp giao tiếp là một khái niệm quan trọng trong việc dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài. Nó không chỉ giúp người học nắm vững các quy tắc ngữ pháp mà còn giúp họ áp dụng chúng vào thực tế giao tiếp. Việc ứng dụng ngữ pháp giao tiếp trong giảng dạy tiếng Việt đã trở thành một xu hướng phổ biến, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Các giáo trình hiện nay đã bắt đầu tích hợp ngữ pháp giao tiếp vào nội dung giảng dạy, giúp người học dễ dàng tiếp cận và sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp thực tế.

1.1. Khái niệm ngữ pháp giao tiếp và vai trò của nó

Ngữ pháp giao tiếp được hiểu là cách thức mà ngữ pháp được sử dụng trong các tình huống giao tiếp thực tế. Nó không chỉ đơn thuần là các quy tắc ngữ pháp mà còn bao gồm cách thức mà người nói và người nghe tương tác với nhau. Việc hiểu rõ ngữ pháp giao tiếp giúp người học có thể giao tiếp hiệu quả hơn, từ đó nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt trong các tình huống thực tế.

1.2. Lợi ích của việc dạy ngữ pháp giao tiếp cho người nước ngoài

Dạy ngữ pháp giao tiếp cho người nước ngoài mang lại nhiều lợi ích. Đầu tiên, nó giúp người học tự tin hơn khi giao tiếp. Thứ hai, nó giúp họ hiểu rõ hơn về văn hóa và phong tục tập quán của người Việt. Cuối cùng, việc áp dụng ngữ pháp giao tiếp vào giảng dạy giúp nâng cao hiệu quả học tập, giúp người học dễ dàng tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ trong thực tế.

II. Thách thức trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc áp dụng ngữ pháp giao tiếp. Một trong những thách thức lớn nhất là sự khác biệt về ngữ pháp giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác. Điều này có thể gây khó khăn cho người học trong việc hiểu và sử dụng ngữ pháp một cách chính xác. Ngoài ra, việc thiếu tài liệu giảng dạy phù hợp cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Sự khác biệt ngữ pháp giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác

Tiếng Việt có nhiều điểm khác biệt so với các ngôn ngữ khác, đặc biệt là về cấu trúc câu và cách sử dụng từ. Những khác biệt này có thể gây khó khăn cho người học trong việc nắm bắt và áp dụng ngữ pháp. Việc hiểu rõ những khác biệt này là rất quan trọng để giúp người học vượt qua những rào cản trong quá trình học tập.

2.2. Thiếu tài liệu giảng dạy phù hợp

Nhiều giáo trình hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của người nước ngoài. Việc thiếu tài liệu giảng dạy phù hợp có thể làm giảm hiệu quả của quá trình học. Cần có những tài liệu giảng dạy được thiết kế đặc biệt để phù hợp với nhu cầu và trình độ của người học, từ đó giúp họ dễ dàng tiếp cận và sử dụng ngữ pháp trong giao tiếp.

III. Phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp hiệu quả

Để dạy ngữ pháp giao tiếp hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại. Một trong những phương pháp hiệu quả là sử dụng tình huống thực tế trong giảng dạy. Điều này giúp người học có thể áp dụng ngữ pháp vào các tình huống giao tiếp cụ thể. Ngoài ra, việc sử dụng công nghệ trong giảng dạy cũng là một xu hướng đang được ưa chuộng.

3.1. Sử dụng tình huống thực tế trong giảng dạy

Việc sử dụng tình huống thực tế trong giảng dạy giúp người học có thể áp dụng ngữ pháp vào các tình huống giao tiếp cụ thể. Điều này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về ngữ pháp mà còn giúp họ tự tin hơn khi giao tiếp. Các tình huống có thể được thiết kế dựa trên các tình huống giao tiếp hàng ngày, từ đó giúp người học dễ dàng tiếp cận và sử dụng ngôn ngữ.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong giảng dạy ngữ pháp

Công nghệ có thể được sử dụng để tạo ra các bài học tương tác, giúp người học có thể thực hành ngữ pháp một cách hiệu quả. Việc sử dụng các ứng dụng học tập, video giảng dạy và các công cụ trực tuyến có thể giúp người học tiếp cận ngữ pháp một cách dễ dàng và thú vị hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của ngữ pháp giao tiếp trong dạy tiếng Việt

Ngữ pháp giao tiếp không chỉ là lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Việc áp dụng ngữ pháp giao tiếp vào giảng dạy giúp người học có thể giao tiếp hiệu quả hơn trong các tình huống thực tế. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng ngữ pháp giao tiếp vào giảng dạy giúp nâng cao khả năng giao tiếp của người học.

4.1. Nghiên cứu trường hợp ứng dụng ngữ pháp giao tiếp

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng ngữ pháp giao tiếp vào giảng dạy giúp người học có thể giao tiếp hiệu quả hơn. Các trường hợp cụ thể cho thấy rằng người học có thể sử dụng ngữ pháp một cách tự nhiên hơn trong các tình huống giao tiếp thực tế. Điều này chứng tỏ rằng ngữ pháp giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng giao tiếp của người học.

4.2. Kết quả khảo sát về hiệu quả giảng dạy

Kết quả khảo sát cho thấy rằng người học cảm thấy tự tin hơn khi giao tiếp sau khi được dạy ngữ pháp giao tiếp. Họ cũng cho biết rằng việc áp dụng ngữ pháp vào các tình huống thực tế giúp họ dễ dàng hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ. Điều này cho thấy rằng việc dạy ngữ pháp giao tiếp là một phương pháp hiệu quả trong việc nâng cao khả năng giao tiếp của người học.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của ngữ pháp giao tiếp

Ngữ pháp giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Việc áp dụng ngữ pháp giao tiếp không chỉ giúp người học nắm vững các quy tắc ngữ pháp mà còn giúp họ tự tin hơn khi giao tiếp. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp giảng dạy ngữ pháp giao tiếp để nâng cao hiệu quả học tập.

5.1. Tầm quan trọng của ngữ pháp giao tiếp trong giáo dục

Ngữ pháp giao tiếp không chỉ là một phần của ngôn ngữ mà còn là cầu nối giúp người học hiểu và sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả. Tầm quan trọng của ngữ pháp giao tiếp trong giáo dục ngày càng được công nhận, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa.

5.2. Hướng phát triển ngữ pháp giao tiếp trong tương lai

Trong tương lai, cần có những nghiên cứu sâu hơn về ngữ pháp giao tiếp và cách thức áp dụng nó vào giảng dạy. Việc phát triển các tài liệu giảng dạy phù hợp và các phương pháp giảng dạy hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ ứng dụng ngữ pháp giao tiếp trong giảng dạy tiếng việt cho người nước ngoài nghiên cứu trường hợp hành động cầu khiến trong giáo trình dạy tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kì “Hậu phương pháp” (Post - method) trong giảng dạy ngoại ngữ. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trên quan điểm ngữ pháp giao tiếp là ngữ pháp của lời nói, đƣợc trình bày trên các phƣơng diện: hình thức, ý nghĩa và sử dụng (Larsen-Freeman, Fotos, Ellis,…), đƣợc giảng dạy thông qua hội thoại/tình huống, thực hành nhiệm vụ kết hợp thực hành kĩ năng (Oscar R. Ngữ pháp giao tiếp có nguồn gốc từ định hƣớng giao tiếp trong giảng dạy ngoại ngữ, hƣớng tới mục đích nâng cao năng lực giao tiếp (communicative competence), và đƣợc đánh giá: “phát triển kĩ năng của sinh viên trong việc hiểu và tự thể hiện đƣợc bản thân bằng ngoại ngữ; nuôi 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dƣỡng thái độ học tập tích cực theo hƣớng giao tiếp bằng ngoại ngữ; và nâng cao niềm đam mê của sinh viên với một ngôn ngữ và một nền văn hóa, qua đó đào sâu hơn những tầm hiểu biết mang tính quốc tế” [Savignon, 2001, tr. Ứng dụng quan điểm giao tiếp khi giảng dạy hành động ngôn từ, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: giảng dạy hành động ngôn từ phải gắn liền với ngữ cảnh và tình huống.

Cohen(1996) coi trọng vai trò của ngữ cảnh khi giảng dạy, thể hiện trong nghiên cứu “Speech acts in second language learning contexts”. Mier (2003) chỉ ra mục đích giảng dạy hành động ngôn từ hiện nay là nâng cao sự hiểu biết của ngƣời học về “ngữ dụng, văn hóa và các chiến lƣợc giao tiếp”. Đó cũng chính là vấn đề nâng cao năng lực giao tiếp cho ngƣời học thông qua giảng dạy ngữ pháp giao tiếp. Từ cơ sở ngôn ngữ học chức năng và quan điểm giảng dạy ngữ pháp giao tiếp, các hành động ngôn từ, đặc biệt là HĐCK,xuất hiện hầu hết trong các giáo trình dạy ngoại ngữ (phổ biến là tiếng Anh).

Đối với những giáo trình dạy tiếng Anh giao tiếp, HĐCK đƣợc sắp xếp giảng dạy chính thức trong chƣơng trình học, các HĐCK nhƣđề nghị, yêu cầu, khuyên, mời,… đƣợc thiết kế là mục tiêu bài học, các đơn vị ngữ pháp cấu thành HĐCK đƣợc lựa chọn phục vụ thực hiện các chức năng cầu khiến,đƣợc giảng dạy thông qua hội thoại/tình huống, kếp hợp thực hành kĩ năng ngoại ngữ. Có thể kể đến một số bộ giáo trình nổi tiếng nhƣ: Streamline English (Bernard Hartley - Peter Viney), New Headway (Soars Liz - John), Practical English Usage (Michael Swan),Face2Face (Chris Redston - Gillie Cunningham - Jan Bell)…Ví dụ: Giáo trình Streamline English (Connections), xuất bản lần đầu năm 1979, đƣợc biên soạn trên cơ sở các hoạt động lời nói và các chủ điểm giao tiếp. Trong chủ điểm 38, chủ đề giao tiếp là Advice (Khuyên nhủ) và đơn vị ngữ pháp mục tiêu là should/shouldn’t. Sau khi ngƣời học làm quen với cách sử dụng của should/shouldn’t trong hội thoại, họ lại đƣợc tiếp tục củng cố kiến thức bằng các bài luyện tập ngôn ngữ và các bài tập tình huống (Ví dụ: Hãy sử dụng should/shouldn’t để khuyên nhủ bạn trong các tình huống sau: Bạn của anh/chị muốn giảm cân; Một ngƣời nƣớc ngoài muốn học ngôn ngữ của anh/chị; …).

Phần chú giải ngữ pháp đƣợc thiết kế riêng để ngƣời học dễ dàng đọc hiểu. Đối với những giáo trình dạy ngữ pháp tiếng Anh, các đơn vị ngữ pháp cấu thành HĐCK đƣợc trình bày mặt hình thức, giới thuyết ý nghĩa, mục đích cầu khiến rõ ràng, kèm theo hƣớng dẫn sử dụng cụ thể(Ví dụ: ngữ pháp giao tiếp tiếng Anh 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giảng dạy HĐCK qua thức mệnh lệnh, các động từ “can, could, may” đƣợc diễn giải với ý nghĩa sử dụng của chúng là cấu tạo lời cầu khiến/lời cầu khiến lịch sự).Hệ thống bài tập thực hành ngữ pháp rất đa dạng, bao gồm các dạng bài tập tạo lập, củng cố cấu trúc ngữ pháp và các dạng bài tập sản sinh, bài tập tri nhận giúp ngƣời học rèn luyện kĩ năng sử dụng các đơn vị ngữ pháp vào tình huống giao tiếp. Có thể kể đến một số bộ giáo trình dạy ngữ pháp giao tiếp nhƣ: Communicative grammar practise (Leo Jones),Active Grammar (Fiona Davis- Wayne Rimmer), Essential Grammar in Use (Raymond Murphy), Living grammar (Ken Paterson), Student Grammar of Spoken and Written English (Douglas Biber). Mặc dù mục tiêu bài học của các giáo trình là ngữ pháp nhƣng cách giải thích ngữ pháp luôn gắn với mục đích giao tiếp và tƣơng tự nhƣ giáo trình dạy giao tiếp, hệ thống bài tập thực hành ngữ pháp theo tình huống và nhiệm vụ rất phong phú.

Đặc biệt, các chỉ dẫn văn hóa - xã hội rất đƣợc các giáo trình chú ý khi giảng dạy mặt sử dụng của đơn vị ngữ pháp. Nhƣ vậy, trên thế giới, ngữ pháp giao tiếp và ứng dụng ngữ pháp giao tiếp vào giảng dạy hành động ngôn từ, HĐCK đã đƣợc nghiên cứu ở cả phƣơng diện lí luận cũng nhƣ đƣa vào thực tiễn giảng dạy. Đặc biệt,trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, mục đích học ngoại ngữ để giao tiếp trở nên cần thiết hơn hết, nâng cao năng lực giao tiếp của ngƣời học đƣợc quan tâm hàng đầu. Giảng dạy ngữ pháp giao tiếp chính là cách thức giúp nâng cao năng lực giao tiếp một cách hiệu quả và toàn diện.

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Những vấn đề về ngữ pháp và giao tiếp nói chung đã đƣợc đề cập từ khá lâu trong giáo dục học cũng nhƣ ngôn ngữ họctại Việt Nam. Giáo dục học vận dụng lí thuyết giao tiếp trong dạy và học ngoại ngữ (phổ biến là tiếng Anh), dạy và học tiếng Việt, ngữ văn (cho học sinh Việt Nam trong trƣờng phổ thông).Ngôn ngữ với tƣ cách là ngành khoa học cơ bản, trực tiếp liên quan và cung cấp những vấn đề khoa học về ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm hành chức. Quan trọng nhất là sự phát triển của Ngữ dụng học những thập niên cuối thế kỉ XX với các kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ trong mối quan hệ với giao tiếp và những vấn đề cụ thể về lí thuyết hội thoại nhƣ: Giản yếu về Ngữ dụng học, Đại cương ngôn ngữ học (Đỗ Hữu Châu), Ngữ dụng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp), Ngữ dụng học (Đỗ Thị Kim Liên), Giao tiếp - Diễn ngôn và cấu tạo văn bản (Diệp Quang Ban), …Những nghiên cứu 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này có ảnh hƣởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài, bao gồm ngữ pháp. Ở Việt Nam, dạy và học tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữcó lịch sử lâu dài.

Đến những năm 50 của thế kỉ XX, các mối quan hệ quốc tế trong chiến tranh làm tăng nhu cầu dạy và học tiếng Việt. Cho đến nay, hệ thống các trƣờng đại học, các trung tâm có đào tạo tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã đƣa tiến trình giảng dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ chính thức trở thành một ngành khoa học chuyên môn. Mục đích học để giao tiếp là mục đích quan trọng và phổ biến nhất của ngƣời nƣớc ngoài ở Việt Nam. Những vấn đề chung của cách tiếp cận giao tiếp và sự vận dụng chúng vào dạy học tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài đã luôn đƣợc quan tâm, nhất là từ những năm 1990 trở lạiđây.

Các nghiên cứu đều có điểm chung làphân biệt ngữ pháp lí thuyết và ngữ pháp thực hành, ngữ pháp lời nói tronggiảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ. Đinh Văn Đức với loạt bài nghiên cứu: “Vài suy nghĩ bước đầu về ngữ pháp lí thuyết và ngữ pháp thực hành trong việc dạy tiếng Việt”(1991), “Ngữ pháp chức năng giúp gì cho việc dạy tiếng Việt ở nước ta” (1997),chỉ ra rằng ngữ pháp trong giảng dạy ngoại ngữ là ngữ pháp của lời nói và có mối liên hệ với ngữ pháp chức năng trong ngôn ngữ học. Các đơn vị ngữ pháp nên đƣợc giảng dạy trên các phƣơng diện: hình thức, ý nghĩa và sử dụng. Tác giảcho rằng: “Ngôn ngữ là một thiết chế xã hội, ngƣời ta hiểu nhƣ một thiết chế chặt chẽ của các quy tắc, quy ƣớc cộng đồng bản ngữ, trong đó, mỗi ngƣời tự nguyện tham gia.

Tuy nhiên, các quy tắc đó chƣa đủ đảm bảo để ngƣời ta hiểu đúng nhau. Một câu nói, một phát ngôn chỉ có thể hiểu đúng trong một tình huống nhất định, trong một bối cảnh nhất định, trong một điều kiện nhất định. Nghĩa là mỗi câu phải ứng với một tình huống giao tiếp cụ thể” [Đinh Văn Đức, 2012, tr. Đây đƣợc xem là một cơ sở cho việc xây dựng các tình huống giao tiếp trong dạy học tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ.Trong giáo trình “Ngôn ngữ học ứng dụng”, Đinh Văn Đức và nhóm tác giả đã khẳng định: “ngôn ngữ sách giáo khoa cũng liên thông với ngôn ngữ khoa học và công nghệ, phong cách văn bản khoa học, từ vựng và ngữ pháp giao tiếp (Communicative Grammar)” [Đinh Văn Đức- Nguyễn Văn Chính-Đinh Kiều Châu, 2016, tr.

Mai Ngọc Chừ(2001) trong bài viết “Quan điểm giao tiếp - thực tiễn trong việc viết giáo trình tiếng Việt và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở giai đoạn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu” nhấn mạnh việc thiết kế giáo trình phải tính đến các mục đích giao tiếp của ngƣời học, đáp ứng các nhu cầu giao tiếp thực. Vũ Thị Thanh Hƣơng có bài “Dạy ngữ pháp theo cách tiếp cận giao tiếp”, cho rằng: “trọng tâm của cách tiếp cận giao tiếp là phát triển năng lực giao tiếp cho ngƣời học” và “cách tiếp cận giao tiếp coi ngữ pháp là một thành tố cấu thành năng lực giao tiếp” [Vũ Thị Thanh Hƣơng, 2007, tr. Trong nghiên cứu “Dạy ngữ pháp như một ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp”, Nguyễn Hồng Cổn cũng trình bày khá rõ về phƣơng pháp giao tiếp, những ƣu điểm và cách dạy ngữ pháp theo phƣơng pháp giao tiếp: “phƣơng pháp giao tiếp cho rằng, trong dạy ngoại ngữ, ngữ pháp không nên đƣợc dạy nhƣ là kiến thức ngôn ngữ học thuần túy mà nhƣ là phƣơng tiện để ngƣời học tiếp nhận và tạo lập các diễn ngôn và văn bản” [Nguyễn Hồng Cổn, 2012, tr. Nguyễn Thiện Nam có nhiều nghiên cứu cụ thể về giảng dạy tiếng Việt nhƣ một ngoại ngữ, ngữ pháp giao tiếp đƣợc đề cập đến trong: “Một vài suy nghĩ về khái niệm ngữ pháp trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” (2001).

Tiếp đó, trong nghiên cứu “Số phận của Ngữ pháp trong tiến trình dạy tiếng - Một vài liên tưởng vào sách dạy tiếng Việt” (2010), tác giả cũng phân tích vị trí của ngữ pháp trong tiến trình dạy tiếng tại Việt Nam. Cụ thể, giai đoạn hiện nay là giao tiếp trên nền tảng ngữ pháp với xu hƣớng “Focus on form” (Long M.), đem lại đóng góp thực tiễn đáng kể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ