CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG PR CỦA CÁC TỔ CHỨC TỪ THIỆN 1. Giới thiệu chung về hoạt động từ thiện và các tổ chức từ thiện 1. Khái niệm về Từ thiện Dân tộc Việt Nam ta từ ngàn đời đã có truyền thống “lá lành đùm lá rách”, đặc biệt là khi đứng trước những thảm họa ngặt nghèo, những cá nhân hoặc tổ chức có tấm lòng nhân ái, nhiệt tình, tự nguyện sẽ liên kết lại hoạt động cứu trợ, giúp đỡ cho cộng đồng. Người ta cũng hay nhắc tới các “tấm gương” từ thiện lớn trên thế giới như là cách kêu gọi, cổ vũ nhau.
Đó là tỷ phú Buffett cùng với Bill Gates lập ra quỹ “The Giving Pledge” kêu gọi những cá nhân giàu có quyên góp hầu hết tài sản vào tổ chức từ thiện. Riêng Buffett đã quyên góp được 25,5 tỷ USD. Quỹ Bill & Melinda Gates đã tài trợ hàng tỷ USD để phát triển các loại thuốc chống lại HIV, sốt rét, bại liệt và các bệnh khác… Ở Việt Nam chúng ta có Quỹ Từ thiện Bông Hồng Nhỏ, trong năm đầu tiên hoạt động (2022), Quỹ đã dành 73 tỷ đồng để triển khai 5 chương trình thiện nguyện, tập trung vào các hoạt động giáo dục và y tế. Thông qua các chiến dịch từ thiện và nhân đạo các tổ chức, cá nhân hoạt động vì cộng đồng đã tạo được những sự thay đổi mang tính tích cực cho người dân, xã hội và đất nước.
Mặc dù hoạt động từ thiện, nhân đạo đóng một vai trò quan trọng trong xã hội nhưng hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp lý chuyên biệt nào được đặt ra để điều chỉnh hoạt động này1. Các khái niệm về từ thiện còn chưa rõ ràng, nổi bật có thể kể đến như sau: Trong cuốn từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên (2003, tr.456) có định nghĩa từ thiện như sau: Có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó để làm phúc. 1 Lê Anh (2022), “Hoàn thiện pháp luật về từ thiện nhân đạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra”, https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/content/tintu c/Lists/News&ItemID=66118, truy cập ngày (27/02/2023). 11 Phân tích về mặt từ ngữ, "từ thiện" là một từ Hán Việt (慈善) được ghép bởi hai từ: "Từ" và "Thiện".
"Từ": nghĩa là thương yêu, ví dụ: "nhân từ" nghĩa là thương người, "từ tâm" nghĩa là lòng thương. "Thiện": nghĩa là tốt lành, là hiền lành, không làm điều gì trái với đạo đức và pháp luật. Như vậy có thể tạm hiểu, từ thiện có nghĩa là làm việc tốt xuất phát lòng yêu thương (người), nó có thể là những việc giúp đỡ những người yếu kém, thiếu may mắn1. Một trong những đặc điểm của "từ thiện" là thường xuất phát từ lòng tự nguyện, nên không có những nguyên tắc bắt buộc nào.
Theo Helmut Anheier và cộng sự (2005)2, từ thiện (charity) có thể được hiểu là: a) việc tự nguyện giúp đỡ những người cần trợ giúp, bao gồm cả hành động bố thí; b) cơ quan hay tổ chức làm việc giúp đỡ người cần trợ giúp; c) những quan niệm về lòng tốt, sự hào phóng, vị tha và bao dung khi đánh giá người khác. Các tác giả này cũng cho rằng, theo nghĩa rộng, thì từ thiện có thể được hiểu như là những cam kết lâu dài và tự nguyện vì lợi ích của cộng đồng thông qua việc giải quyết các nguyên nhân sâu xa gây ra các vấn đề xã hội3. Trong khóa luận này, thuật ngữ “từ thiện” được sử dụng theo Helmut Anheier và cộng sự. Tuy nhiên, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta văn hóa từ thiện cũng được nhấn mạnh “cách cho quý hơn của cho”.
Hoạt động từ thiện không chỉ hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn nhất thời, mà còn hướng đến giá trị bền vững, lâu dài, phát huy tinh thần “cho cần câu hơn cho con cá”. Khái niệm về tổ chức từ thiện Hiện tại có rất ít định nghĩa về tổ chức từ thiện, đây cũng là một trong những mục tiêu mà khóa luận cần tìm hiểu. Khi được đề nghị đưa ra một định nghĩa về tổ chức từ thiện, đa phần người dân tham gia phỏng vấn sau đều cho rằng các tổ chức từ thiện là tập hợp một cộng đồng nhằm giúp đỡ người nghèo, đồng bào vùng cao, 1 Blog Từ Thiện Việt Nam, https://www.com/p/gioi-thieu. 2 Anheier HK, List R (2005), A dictionary of civil society, philanthropy, and the non-profit sector.
London; New York: Routledge. 3 Trong trường hợp này, thuật ngữ được sử dụng trong tiếng Anh là ‘philanthropy’. 12 những người có hoàn cảnh khó khăn. Nói cách khác, người dân thường hiểu về vai trò của các tổ chức từ thiện theo nghĩa hẹp.
Các hình thức đóng góp từ thiện khác, như đóng góp từ thiện để xây dựng các công trình công cộng hay hiến máu nhân đạo, cũng đôi khi được nhắc tới, nhưng chúng không phải là cách hiểu về từ thiện mà đa số người tham gia phỏng vấn sâu chia sẻ. Một số đoạn trích sau đây sẽ cho thấy cách người dân hiểu về vấn đề từ thiện: “Là tổ chức mà người ta gây quỹ từ những nguồn uy tín để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn” – PV1. “Tổ chức từ thiện là tổ chức thường đi từ thiện vùng sâu vùng xa giúp đỡ người khác” – PV5. “Những người chuyên giúp đỡ người nghèo, cô đơn, hoàn cảnh kém, không nơi nương tựa“ – NTT6.
Trong cuộc phỏng vấn sâu, các hoạt động từ thiện, nhân đạo mang tính “bền vững” như bảo vệ quyền con người, khuyến học có được đề cập nhưng rất ít. Chứng tỏ người dân thường quan tâm hơn đến những hoàn cảnh khó khăn ở xung quanh mình hoặc có nhu cầu được trợ giúp khẩn cấp. Những vấn đề mang tính lâu dài và chưa thấy kết quả ngay lập tức thường ít được quan tâm. Phạm Thị Tính (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhấn mạnh, với sự phát triển của xã hội, từ thiện ngày nay đã được mở rộng theo hướng “từ thiện phát triển”, nghĩa là hoạt động từ thiện trở thành việc làm thường xuyên hướng đến lâu dài, bền vững, giúp những người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn lập nghiệp để thoát nghèo1.
Trong nội dung khóa luận này, tổ chức từ thiện được định nghĩa là: “Tổ chức tập hợp nhiều cá nhân hướng tới hoạt động nhân đạo vì cộng đồng không vì mục đích lợi nhuận; nhằm giúp đỡ những hoàn cảnh còn khó khăn vượt lên nghịch 1 Lê Bình (2022), “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về từ thiện nhân đạo”, https://daibieunhandan.vn/luat- trong-cuoc-song-quoc-hoi-va-cu-tri/xay-dung-va-hoan-thien-phap-luat-ve-tu-thien-nhan-dao-i295011/ (truy cập ngày 20/01/2023). 13 cảnh; cải thiện đời sống, phấn đấu tự vươn lên hướng tới giá trị bền vững; đồng thời, hỗ trợ Nhà nước trong việc phát triển xã hội”. Có một số sự tương đồng giữa tổ chức từ thiện và tổ chức phi lợi nhuận. Cả hai đều hoạt động xuất phát từ tinh thần tự nguyện của tập hợp các cá nhân có cùng đặc điểm, ngành nghề, sở thích, nhu cầu,… hướng đến mục tiêu chung, không vì lợi nhuận.
Tuy nhiên, tổ chức phi lợi nhuận có phạm vi hoạt động rộng hơn, bao gồm cả từ thiện và những lĩnh vực khác như: môi trường, nhân quyền, thiên tai, văn hoá, giáo dục,… Vì vậy, trong khoá luận này, tác giả có tham khảo và sử dụng một số tài liệu về tổ chức phi lợi nhuận để so sánh và làm rõ hoạt động từ thiện, nhân đạo tại Việt Nam. Phân loại các tổ chức từ thiện Một nghiên cứu của Lee và Brudney (2012) đã chỉ ra rằng tùy vào quy mô (nhỏ, vừa, lớn), vị trí địa lý (địa phương, quốc gia, quốc tế) và tôn chỉ mục đích hoạt động (cứu trợ động vật, bảo vệ môi trường, nhân quyền, xóa đói giảm nghèo) có thể phân chia các tổ chức từ thiện thành chính thức hoặc không chính thức 1. Trong quá trình phỏng vấn sâu các tổ chức từ thiện và cán bộ Sở Nội vụ phụ trách việc quản lý các Hội trong địa phương thành phố Đà Nẵng, tác giả bắt gặp cụm từ “tổ chức từ thiện tự phát“ được sử dụng để đề cập những tổ chức từ thiện không đăng ký hoạt động tại cơ quan có thẩm quyền (Sở Nội vụ). Các tổ chức này thường là tập hợp những nhà hảo tâm đứng ra thành lập các quỹ cộng đồng, dùng uy tín để quyên góp.
Cùng với sự phát triển về kinh tế, chính trị, nhận thức về hoạt động từ thiện ngày càng thay đổi, không chỉ các tổ chức, đoàn thể của Nhà nước được giao nhiệm vụ làm công tác nhân đạo mới đứng ra kêu gọi từ thiện mà cả các cá nhân (ca sĩ, diễn viên, người mẫu…), các tổ chức phi chính phủ, tôn giáo cũng tham gia. Participation in formal and informal volunteering: Implications for volunteer recruitment. Nonprofit Management and Leadership, 23(2), 159–180. 14 Hiện vẫn chưa có khung hành lang pháp lý quy định rõ ràng về cách phân loại các tổ chức từ thiện, nhưng căn cứ vào những lý luận ở trên trong khuôn khổ khóa luận này có thể phân chia các tổ chức từ thiện địa phương tại Đà Nẵng thành ba loại như sau: ● Tổ chức từ thiện có yếu tố pháp nhân: Là tổ chức có dấu mộc, được Nhà nước công nhận về mặt giá trị pháp lý và được hỗ trợ kinh phí hoạt động.
Các tổ chức này thường được hoạt động dưới hình thức Hội (theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP), tại Đà Nẵng có thể kể tên một số Hội trong lĩnh vực từ thiện, nhân đạo như: Hội Chữ thập đỏ Thành phố Đà Nẵng, Hội Từ thiện & Bảo vệ Quyền Trẻ em Thành phố Đà Nẵng, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Thành phố Đà Nẵng, Hội Khuyến học Đà Nẵng,… ● Tổ chức từ thiện trực thuộc Hội, đoàn thể đơn vị, cơ quan, công ty: Là tổ chức sinh ra từ một đơn vị/ tổ chức cụ thể như Chùa, bệnh viện, trường học, công ty,. Các tổ chức này cũng chưa thông qua đăng ký và thường hoạt động dưới hình thức Đội, Nhóm, CLB với quy mô từ từ 10 đến 30 thành viên. ● Tổ chức từ thiện tự phát: Là tổ chức chưa thông qua đăng ký, kiểm định của chính quyền, Nhà nước. Họ hoạt động độc lập có tôn chỉ hoạt động theo quy tắc riêng do người đứng đầu hoặc các thành viên thống nhất đặt ra.
Dù khác nhau về yếu tố chính danh nhưng các chức năng và nhiệm vụ cốt lõi của các tổ chức từ thiện địa phương tại Đà Nẵng vẫn được đảm bảo bởi tôn chỉ mục đích hoạt động, cái tâm, tấm lòng của những thành viên trong tổ chức. Vai trò của các tổ chức từ thiện Tại Hội thảo “Một số vấn đề lý luận về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về từ thiện nhân đạo”, TS.