Chương 1, điều 4 mục 1 và 2 của Luật Công nghệ thông tin do Quốc hội khóa XI thông qua năm 2006 đã đưa ra khái niệm CNTT và thông tin số như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”. “Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số” [13]. Thực tiễn cho thấy, sự xuất hiện và phát triển của CNTT đã tác động đến mọi phương diện hoạt động của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Bách khoa tri thức phổ thông “Việc sử dụng CNTT sẽ không còn gắn liền với cái ghế ngồi mà sẽ trở thành một bộ phận không tách rời của cuộc sống ngay trong lúc người ta đi lại quanh nhà, trong công sở hay ở bất kỳ một nơi nào khác.
Đó là thứ tin học khắp nơi, một bước ngoặt thực sự trong cách sống, làm việc và vui chơi của chúng ta” [1, tr 648]. Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 nước ta về cơ bản sẽ phải “tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức mới, từng bước phát triển tri thức”. Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã khẳng định “CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa của thế giới hiện đại” [4]. Như vậy, có thể khẳng định CNTT đã xâm nhập vào mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của cuộc sống nhân loại.
Cũng nhờ đó mà xã hội loài người bước sang một thời kỳ mới – thời kỳ của xã hội tri thức/thông tin. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tin học Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Tin học là ngành nghiên cứu về việc tự động hóa xử lý thông tin bởi một hệ thống máy tính cụ thể hoặc trừu tượng. Với cách hiểu hiện nay, tin học bao hàm tất cả các nghiên cứu và kỹ thuật có liên quan đến việc xử lý thông tin. Trong nghĩa thông dụng, tin học còn có thể bao hàm cả những gì liên quan đến các thiết bị máy tính hay các ứng dụng tin học văn phòng”.
Theo từ điển Bách khoa “Các lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của tin học bao gồm: thuật toán và cấu trúc dữ liệu, kiến trúc máy tính, hệ điều hành, tính toán số và ký hiệu, ngôn ngữ lập trình, phương pháp luận và công nghệ phần mềm, cơ sở dữ liệu và các hệ tìm kiếm thông tin, trí tuệ nhân tạo và người máy” [34, tr 414] “Tin học hóa là việc đưa máy tính và tin học vào sử dụng trong các ứng dụng thực tế” [35, tr 414]. Trên thực tế, khái niệm tin học hóa và ứng dụng CNTT khá tương đồng nên hai khái niệm tin học hóa TV và ứng dụng CNTT trong hoạt động TTTV có nghĩa tương đồng và thay thế lẫn nhau. Tự động hóa thư viện Tin học hóa hoạt động TTTV là xu thế phát triển tất yếu của sự nghiệp TTTV trên toàn thế giới. Ngày nay, xu thế này đang diễn ra trên quy mô ngày càng rộng, với tốc độ rất nhanh chóng.
Đỉnh cao của việc ứng dụng tin học trong quá trình hoạt động đã đưa sự nghiệp TTTV tiến thêm một bước vô cùng quan trọng trên quy mô toàn cầu, đó là tự động hóa thư viện. Tự động hóa TV có thể hiểu là việc ứng dụng CNTT vào các hoạt động và dịch vụ của TV. Các chức năng có thể được tự động hóa là bất kỳ hay tất cả các chức năng sau: bổ sung, biên mục, truy cập công cộng (OPAC và Web OPAC), đánh chỉ mục và tóm tắt, lưu thông, quản lý các ấn phẩm liên tục và dịch vụ tham khảo,… Tự động hóa thư viện có nhiều định nghĩa khác nhau: Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “(Hệ thống) tự động hóa hoạt động TTTV là một hệ thống máy tính được thiết kế để tự động hóa hoạt động nghiệp vụ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và quản lý các cơ quan thông tin thư viện. Bao gồm: chọn lọc, đặt mua để bổ sung tài liệu, xử lý tài liệu/thông tin như: biên mục, tìm tin, biên soạn và xuất bản thư mục…”.
Theo Từ điển Thư viện học và Thông tin học trực tuyến (http://lu.coms/odlis): “Tự động hóa thư viện là việc sử dụng các hệ thống máy tính được thiết kế và hoạt động nhằm thực hiện các công đoạn mà trước đây được làm một cách thủ công trong các thư viện”. Tự động hóa TV được định nghĩa đơn giản hơn đó là việc ứng dụng CNTT, truyền thông và trang thiết bị hiện đại nhằm tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động TTTV, và trong đó, ứng dụng CNTT đóng vai trò quan trọng nhất. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin thư viện Từ việc ứng dụng CNTT trong quá trình hoạt động, sự nghiệp TTTV trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã, đang và sẽ có nhiều biến đổi trên mọi phương diện. Những biến đổi mang tính tích cực đã khẳng định vai trò của CNTT trong hoạt động TTTV Làm biến đổi bản thân thư viện Hình ảnh TV truyền thống ra đời với chức năng lưu giữ, bảo quản và phục vụ VTL chủ yếu là giấy, đất sét, da thú, tre nứa…đã tồn tại trong lịch sử xã hội loài người từ xưa đến nay.
Khi CNTT xuất hiện đã tác động sâu sắc và làm biến đổi căn bản bản chất của TV. Hình ảnh TV truyền thống dần biến đổi trở thành TV lưỡng tính, trong đó tồn tại cả VTL truyền thống (chủ yếu là giấy) và tài liệu điện tử. Hơn thế nữa, mô hình TVĐT, TV số, TV ảo đang dần được hình thành trên quy mô toàn thế giới, điều đó đã cho thấy sự khác biệt lớn giữa hình ảnh TV truyền thống và hình ảnh TV hiện đại, cụ thể là: - Từ VTL truyền thống (chủ yếu là giấy) sang VTL điện tử (tài liệu số) - Từ NDT đến với TV thì ngày nay TV tự đến với NDT. - Tài liệu/ thông tin lấy chủ yếu từ nguồn trong nước nay đã bổ sung được tài liệu nước ngoài và với tới nguồn lực TT toàn cầu.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Từ TV có nguồn lực TT khép kín sang TV có khả năng chia sẻ, trao đổi nguồn lực TT giữa các cơ quan TTTV với nhau. - Từ TV chỉ có khả năng cung cấp tài liệu/thông tin tại địa điểm, thời gian nhất định thì ngày nay TV có thể thực hiện điều đó mọi nơi, mọi lúc. Làm biến đổi chức năng, vai trò của người cán bộ thư viện Trong TV truyền thống, cán bộ TV đóng vai trò là nhà tổ chức, bảo quản và phục vụ sách cho bạn đọc, nhưng ở TV hiện đại, họ trở thành những nhà cung cấp TT có định hướng (các chuyên gia thông tin), tức là người xử lý TT và tạo ra TT mới cùng với các SP&DV TT đa dạng, có giá trị gia tăng cao nhằm đáp ứng, thu hút ngày càng nhiều NDT đến với TV. Bên cạnh trình độ chuyên môn nghiệp vụ TV, cán bộ TV phải có trình độ và kỹ năng tin học thành thạo, phải thực hiện được những nhiệm vụ mới như: quản trị TVĐT, tổ chức – quản lý và phục vụ TT số, tạo lập SP&DV TT hiện đại đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của NDT.
Làm biến đổi phương thức hoạt động của thư viện - Đối với hoạt động bổ sung Ngoài những tài liệu được bổ sung thông qua phương thức đặt mua, tặng biếu, các TV có thể khai thác nguồn TT lớn trên mạng. Hơn nữa, các TV còn có thể làm phong phú VTL của mình bằng việc liên kết, trao đổi và chia sẻ nguồn lực TT với các cơ quan TTTV khác dưới sự hỗ trợ của phần mềm chuyên dụng, hệ thống mạng LAN, WAN, INTERNET… Nhờ việc đặt mua tài liệu qua mạng sẽ giúp cho các TV tiết kiệm thời gian, công sức và tài chính. Một đặc trưng rất quan trọng trong hoạt động bổ sung tài liệu ở TV hiện đại là luôn chú trọng bổ sung tài liệu điện tử và hạn chế bổ sung tài liệu in. - Đối với hoạt động xử lý kỹ thuật Trong TV truyền thống, hoạt động xử lý kỹ thuật đòi hỏi nhiều thời gian, công sức; mỗi mục đích, công đoạn phải xử lý kỹ thuật riêng, nhưng khi ứng dụng CNTT thì chỉ cần xử lý một lần, sử dụng nhiều lần với nhiều mục đích khác nhau, hơn nữa, 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các TV còn có thể tận dụng kết quả xử lý ở các cơ quan khác trong quá trình thực hiện công việc.
- Hoạt động phục vụ người dùng tin Từ bộ máy tra cứu truyền thống, bao gồm hệ thống: mục lục chữ cái, mục lục phân loại, mục lục chủ đề dần được thay thế bằng bộ máy tra cứu hiện đại với CSDL thư mục về VTL của TV. Ngoài ra, các TV còn tạo lập nhiều CSDL khác như: CSDL sự kiện, nhân vật, toàn văn… nhằm giúp NDT có thêm nhiều cơ hội để với tới nguồn tài nguyên TT vô cùng phong phú và đa dạng về mọi lĩnh vực khoa học. CNTT đã tác động làm mở rộng số lượng và phạm vi người sử dụng. Nếu trong TV truyền thống, đối tượng phục vụ chủ yếu là cá nhân, tổ chức tại một khu vực, địa điểm nhất định thì ở TV hiện đại, đối tượng NDT bao gồm các cá nhân, tập thể cả trong và ngoài nước.
Thông qua hệ thống mạng, NDT có thể sử dụng VTL của TV tại bất kỳ địa điểm hay thời điểm cụ thể nào. Các SP&DV TT hiện đại được tạo lập với nội dung đảm bảo chất lượng và hình thức phong phú, đó là phương tiện đưa TT đến với NDT một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Tuy nhiên, đến với TV hiện đại, NDT có thể phải: + Trả tiền: khi sử dụng một số SP&DV TT mới, có giá trị gia tăng cao + Tự phục vụ: khi TV tổ chức phục vụ NDT theo phương thức mở 1.