Chương I CƠ SỞ LÝ LUAN VE UNG DUNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TỈNH NAM ĐỊNH 1. Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện 1. Một số khái niệm liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin 1. Khái niệm công nghệ thông tin Khái niệm “Công nghệ thông tin” (Information Technology) 'Theo “Từ điển Bách khoa toàn thư”: “CNTT là thuật ngữ chỉ chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và các quá trình xử lý thông tin” [32] Luật Công nghệ thông tin năm 2006, trong khoản 1, điều 4 phần thuật ngữ, đã chỉ rõ: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuắt, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [20, tr.
'Như vậy, công nghệ thông tin là ngành khoa học bao gồm các phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là máy tính điện tử, mạng truyền thông, nhằm tô chức, lưu trữ, khai thác và sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của con người. Hạt nhân của CNTT là tin học và viễn thông [15]. Cơ sở công nghệ của CNTT là công nghệ số nhị phân hay còn gọi là kỹ thuật số, cho phép chuyển các thông tin dưới dạng chữ viết, âm thanh, hình ảnh thành thông tin dưới dạng kết hợp. hai con số 0 và 1.
Sau khi được xử lý, thông qua các công cụ điện tử, thông tin này được chuyển thành dạng thông tin mà người bình thường có thể tiếp nhận được mà không giảm chất lượng của thông tin ban đầu. Khái niệm ứng dụng công nghệ thong tin - Khái niệm “Ứng dụng” Trong các cuốn “Từ điển từ và ngữ Hán Việt có chú giải từ tố” của tác giả Nguyễn Lân (2002), “Đại từ điển tiếng Việt" do Nguyễn Như Ý chủ biên (1999) 14 đều giải thích: “Ứng dụng là đưa lý thuyết áp dụng vào thực tiễn. Ứng dụng các thành tựu khoa học, ứng dụng kỳ thuật vào sản xuất” [16][34] - Khái niệm “Ứng dụng công nghệ thông tin” Tại điều 4, khoản 5 Luật Công nghệ (hông tin nam 2006 cũng đã chỉ rõ: “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tể, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” [20, tr. Chỉ thị 58 CT/TW ngày 17/10/2000 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng nêu rỡ: Ứng dụng và phát triên CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tỉnh thần của toàn dân tộc, thúc đây công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.tạo khả năng đi tắt đón đầy lẻ thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá [, tr] Trong lĩnh vực thông tin thư viện, ứng dụng CNTT đã làm thay đổi căn bản mối quan hệ giữa CBTV với NDT, phương thức phục vụ, thu thập, xử lý tài liệu, đồng thời tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin điện tử đáp ứng nhu cầu tin ngày.
cảng cao của NDT. Việc ứng dụng CNTT còn làm thay đổi bộ mặt của thư viện truyền thống, từ đó hình thành những loại hình thư viện mới: thư viện điện tử, thư viện đa phương tiện, thư viện số. Liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong thư viện, ta cũng cần biết tới khái niệm thư viện điện tử, thư viện số: Thư viện điện tử, theo Philip Barker (1997), thư viện điện tử là thư viện mà ở đó có sử dụng rộng rãi máy tính và các phương tiện hỗ trợ khác để xử lý và khai thác tài liệu. Tác giả nhắn mạnh đặc trưng của thư viện điện tử là sử dụng phô biến các phương tiện điện tử trong lưu trữ, tìm kiếm và cung cấp thông tin.
Theo ông, trong thư viện điện từ, ngoài ấn phẩm điện tử vẫn còn tồn tại cả sách truyền thống. 15 Nhu vậy, thư viện điện tử là thư viện có cả tài liệu điện tử và tài liệu truyền thống nhưng môi trường chủ yếu là các tài liệu điện tử, được cấu trúc nhằm cung cấp thông tin thông qua các máy tính và cảc mạng viễn thông. Thư viện số, theo quan điểm của Liên đoàn Thư viện số (1993) “Các thư viện số là các tô chức cung cấp các nguồn lực - tài nguyên, bao gồm cả các chuyên gia để lựa chọn, cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phiên dịch, phân phối, bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các bộ sưu tập số để cho một cộng đồng hoặc một tập hợp cộng đồng NDT xác định luôn có thể sử dụng một cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế” [8]. Từ những điều trình bày trên, có thê hiểu là “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin thư viện ” là việc sử dụng CNTT như máy tính điện tir, các phương tiện truyền thông, thiết bị kĩ thuật hiện đại và mạng viễn thông vào các hoạt động trong dây chuyên thông tin thư viện nhằm cung cắp các giải pháp toàn thế để xử lý, tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguôn lực thông tin, tiến tới xây dựng thư viện điện tử, thư viện số.
Nói một cách cụ thê hơn, ứng dụng CNTT trong thư viện có thể hiểu là việc sử dụng các thành tố của CNTT như phần cứng, phần mềm vào hoạt động thư viện, trong đó: Phần cứng bao gồm: hệ thống máy tính, mạng máy tính và thiết bị ngoại vi, hệ thống an ninh, giám sát, hệ thống mạng LAN, đường truyền Internet, Wifi. Phần mềm bao gồm: các chương trình điều khiển máy tính, ngôn ngữ lập trình, các chương trình ứng dụng, chương trình tiện ích, Ứng dụng CNTT vào hoạt động thư viện gồm các hoạt động: - Xây dựng CSDL - Tự động hóa công tác phục vụ bạn đọc. ~ Xây dựng thư viện số \o khả năng truy cập tử xa. - Lưu trữ dữ liệu với số lượng lớn, không gian nhỏ, an toàn.
16 Các hoạt động ứng dụng CNTT nhằm: ~ Giảm giá thành sản phẩm - dịch vụ trong thư viện ~ Tăng chất lượng sản phẩm - dịch vụ của thư viện. ~ Tăng năng suất lao động của CBTV. ~ Giảm sức lao động do tài liệu nhiều, số lượng CBTV hạn chế không thê xử lý nếu làm thủ công. Xu hướng phát triển công nghệ thông tin Những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại trong CNTT và truyền thông, cùng với sự bùng nỗ thông tin và xu hướng toàn cầu hoá, sự ra đời của nền kinh tế tri thức, máy tính cá nhân và Internet đã làm thay đôi mọi hoạt động của con người trong đó có hoạt động thông tỉn - thư viện [25, tr.
Xu thế giao lưu văn hoá toàn cầu trong đó có nguồn lực thông tin dẫn tới sự thay đôi về chất trong truyền tải, tiếp nhận và xử lý thông tin. Đồng thời, xu thế toàn cầu hoá có tác động sâu sắc đến sự phát triển, giao lưu của ngành văn hóa, đặc biệt là hệ thống thư viện công cộng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của xu thế hội nhập thế giới và khu vực. Xu hướng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh chóng, đặc biệt là công nghệ điện toán đám mây góp phần hình thành xã hội thông tin, kinh tế tri thức, tỷ trọng các ngành nghề cũng dịch chuyên dần từ sản xuất vật chất sang xử lý thông tin. Sự phát triển mạnh mẽ và hội tụ của CNTT và truyền thông đã và đang đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin thư viện.
Trong tương lai gần, CNTT dẫn tới xu hướng: - Hình thành các loại dịch vụ mới, tạo khả năng mới và tiếp cận mới, công nghệ mới (như RFID) cho phép cung cấp thông tin tới NDT nhanh chóng, kịp thời, chính xác ở bất kì nơi nào. Đặc biệt sự hội tụ của các mạng truyền thông băng thông rộng với các dich vụ thông tin di động sẽ cung cấp các giải pháp mới cho con người. - Bùng nỗ các giải pháp dịch vụ thông tin vô tuyến. Cơ sở hạ tằng thông tin sẽ thay đổi mạnh do sự bùng nô của dịch vụ thông tin không dây kết hợp với các công 17 cụ tìm kiếm và các CSDL trực tuyến.
Công nghệ vô tuyến mới băng thông rộng như: WLAN, Wifi. sẽ có tốc độ truy cập lên tới hàng trăm Mb/giây cùng tồn tại và cạnh tranh với công nghệ 3G, 4G Sự phát triển của CNTT, truyền thông và nguồn tin điện tử sẽ dẫn tới xu hướng hình thành và phát triển thư viện điện tử, thư viện số và thư viện lai, làm biến đôi mạnh mẽ hoạt động thông tin thư viện truyền thống, thậm chí có thể dẫn đến suy giảm vai trò của mô hình thư viện truyền thống. Thư viện điện tử được hình thành và phát triên dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, trong đó phần quan trọng nhất của thư viện điện tử là bộ sưu tập số có tô chức, đảm bảo sự truy cập và khai thác có hiệu quả cho NDT. 'Từ những năm 90 của thé ki XX, cae thư viện ở các nước phát triển trên thế giới nhờ có ứng dụng CNTT, đã và đang xây dựng thư viện điện tử, thư viện số.
Ở các nước đang phát triển, cho đến nay hầu hết các thư viện đang ở giai đoạn chuyên tiếp từ thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại, thư viện lai. Sự phát triển mạnh mẽ của Internet với các nguồn tỉn điện tử và các dịch vụ thông tin thư viện đã đem lại nhiều lợi ich cho NDT. Ở Việt Nam, hầu hết các thư viện đều sử dụng Internet, thiết kế website như là một công cụ đề cung cấp thông tin tới NDT. Xu thể toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và giao lưu văn hoá toàn cầu là một tắt yếu, dẫn tới sự liên kết mạnh mẽ giữa các thư viện, hình thành các liên hợp thư viện để chia sẻ nguồn tin điện tử.
Liên thư viện là sự hợp tác của các thư viện ở một vùng hoặc một quốc gia để cung cấp một cách có hệ thống và hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin chuyên biệt của thư viện vả các trung tâm thông tin nhằm tăng cường cung cấp dịch vụ cho NDT.