Skkn ứng dụng công nghệ thông tin trong việc khai thác theo dõi và đánh giá tình hình sử dụng tbdh phát triển năng lực cho học sinh môn vật lý hóa học sinh học ở trường thpt diễn châu 2

Khám phá ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi và đánh giá tình hình sử dụng tbdh cho học sinh môn vật lý, hóa học, sinh học tại THPT Diễn Châu 2.

Trường đại học

Trường THPT Diễn Châu 2

Chuyên ngành

Vật lý, Hóa học, Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

sáng kiến kinh nghiệm

2022

51
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. Phần I - ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Tổng quan sáng kiến

1.5. Tính mới của sáng kiến

1.6. Khả năng áp dụng của sáng kiến

2. Phần II - NỘI DUNG

2.1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC QUẢN LÍ THIẾT BỊ Ở TRƯỜNG THPT

2.1.1. Về đổi mới phương pháp dạy học và các app hổ trợ dạy học trực tuyến

2.1.2. Về việc xây dựng kế hoạch quản lí thiết bị học ở trường THPT

2.1.3. Tìm hiểu về quản lí theo dõi sử dụng TBDH

2.2. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

2.2.1. Mục đích thực nghiệm

2.2.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

2.2.3. Nội dung thực nghiệm

2.2.4. Phương pháp thực nghiệm

2.2.5. Kết quả thực nghiệm và xử lí kết quả thực nghiệm

2.2.5.1. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm
2.2.5.2. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm
2.2.5.3. Kết quả đạt được trong quá trình triển khai đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Tóm tắt

I. Ứng dụng công nghệ thông tin giáo dục và theo dõi học sinh

Phần này tập trung vào công nghệ thông tin giáo dục (Salient LSI Keyword) như một công cụ hỗ trợ theo dõi học sinh (Semantic LSI Keyword) tại THPT Diễn Châu 2. Đề tài đề cập đến việc sử dụng website http://dienchau2.vn làm nền tảng quản lý, cho phép giáo viên đăng ký mượn thiết bị dạy học (Salient Entity, Close Entity của công nghệ thông tin giáo dục), theo dõi, đánh giá và lập báo cáo việc sử dụng thiết bị dạy học (TBDH) (Salient Entity). Đây là một ứng dụng cụ thể của công nghệ thông tin trong dạy học (Semantic LSI Keyword), giúp giám sát học sinh (Semantic LSI Keyword, Close Entity của theo dõi học sinh) gián tiếp qua việc theo dõi việc sử dụng thiết bị. Hệ thống này cung cấp các tiện ích như trích xuất lịch học, thống kê phiếu mượn theo nhiều tiêu chí (giáo viên, môn học, lớp học), và tải dữ liệu xuống file Excel. Việc này góp phần cải thiện chất lượng giáo dục (Semantic LSI Keyword) và phát triển năng lực học sinh (Semantic LSI Keyword). Các ứng dụng di động giáo dục (Semantic LSI Keyword) có thể được xem xét để tăng cường hiệu quả của hệ thống.

1.1. Quản lý thiết bị dạy học và theo dõi giáo viên

Hệ thống quản lý trên website http://dienchau2.vn cho phép theo dõi việc sử dụng thiết bị dạy học (TBDH) (Salient Entity) một cách chi tiết. Giáo viên đăng ký mượn thiết bị qua hệ thống, giúp quản lý dễ dàng hơn so với phương pháp truyền thống. Hệ thống tự động tạo lịch học phòng thí nghiệm dựa trên dữ liệu đăng ký mượn thiết bị. Việc này giúp giảm thiểu lãng phí (Salient Keyword) và tăng hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học (Salient Entity). Hơn nữa, việc theo dõi và thống kê được tự động hóa, giúp giảm tải công việc cho bộ phận quản lý. Dữ liệu được lưu trữ điện tử, dễ dàng truy xuất và phân tích, hỗ trợ việc đánh giá hiệu quả dạy học (Semantic LSI Keyword). Ngoài ra, việc tích hợp với các ứng dụng nhắn tin như Messenger hay Zalo có thể giúp giải quyết nhanh các vấn đề phát sinh, tăng cường giao tiếp (Salient Keyword) giữa giáo viên và bộ phận quản lý.

1.2. Phân tích dữ liệu và đánh giá năng lực học sinh

Dữ liệu thu thập từ hệ thống quản lý thiết bị dạy học (Salient Entity) có thể được sử dụng để phân tích và đánh giá gián tiếp năng lực học sinh (Semantic LSI Keyword). Mặc dù không trực tiếp đánh giá năng lực, nhưng việc theo dõi tần suất sử dụng thiết bị của giáo viên trong mỗi môn học có thể phản ánh mức độ áp dụng phương pháp dạy học tích cực và hiệu quả. Điều này gián tiếp phản ánh chất lượng dạy học (Salient Keyword) và kết quả học tập (Semantic LSI Keyword, Close Entity của năng lực học sinh) của học sinh. Việc phân tích dữ liệu học sinh (Semantic LSI Keyword) cũng cần được thực hiện để đánh giá hiệu quả của hệ thống và đề xuất các cải tiến. Việc này đòi hỏi việc kết hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả điểm số, kết quả kiểm tra, và phản hồi của học sinh. e-learning (Semantic LSI Keyword) có thể được tích hợp để thu thập thêm dữ liệu về quá trình học tập của học sinh.

II. Đánh giá năng lực học sinh môn Vật lý Hóa học Sinh học

Phần này tập trung vào đánh giá năng lực học sinh (Semantic LSI Keyword) ở ba môn học: Vật lý THPT, Hóa học THPT, Sinh học THPT (Semantic LSI Keyword). Mục tiêu là sử dụng công nghệ thông tin (Semantic LSI Keyword) để hỗ trợ đánh giá học tập (Salient Keyword). Tuy nhiên, đề tài không trực tiếp đề cập đến phương pháp đánh giá cụ thể cho từng môn học. Việc này cần được bổ sung để hệ thống trở nên toàn diện hơn. Năng lực học sinh môn Vật lý, năng lực học sinh môn Hóa học, năng lực học sinh môn Sinh học (Semantic LSI Keyword) cần được xem xét dựa trên các tiêu chí cụ thể, phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông 2018. Việc sử dụng phần mềm đánh giá học sinh (Semantic LSI Keyword) có thể được nghiên cứu để hỗ trợ quá trình đánh giá này.

2.1. Thực trạng và nhu cầu đánh giá năng lực

Việc đánh giá năng lực học sinh (Semantic LSI Keyword) trong giáo dục phổ thông hiện nay đòi hỏi sự chuyển đổi từ đánh giá dựa trên kiến thức thuần túy sang đánh giá năng lực tổng thể. Ba môn khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học (Salient Entity) đều cần đánh giá năng lực tư duy, giải quyết vấn đề, và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. THPT Diễn Châu 2 (Semantic LSI Keyword, Salient Entity) như nhiều trường khác, cần các công cụ hỗ trợ đánh giá định lượng (Salient Keyword) và đánh giá định tính (Salient Keyword) hiệu quả. Hệ thống quản lý TBDH (Salient Entity) chỉ là một phần hỗ trợ, cần kết hợp với các phương pháp đánh giá khác như kiểm tra, bài tập, dự án, và quan sát. Việc thu thập dữ liệu học sinh (Semantic LSI Keyword) cần được thực hiện một cách bài bản để đảm bảo tính chính xác và khách quan của quá trình đánh giá.

2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong đánh giá

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá năng lực học sinh (Semantic LSI Keyword). Platform giáo dục (Semantic LSI Keyword) và phần mềm đánh giá (Semantic LSI Keyword) có thể giúp tự động hóa nhiều khía cạnh của quá trình đánh giá, từ việc tạo đề kiểm tra đến chấm điểm tự động. Dữ liệu thu thập được có thể được phân tích để xác định điểm mạnh, điểm yếu của học sinh trong từng môn học. Tuy nhiên, cần lưu ý việc lựa chọn phần mềm đánh giá (Semantic LSI Keyword) phù hợp với nhu cầu và điều kiện của trường học. Đánh giá định tính (Salient Keyword) vẫn cần được thực hiện để có cái nhìn toàn diện về năng lực học sinh (Semantic Entity). Việc kết hợp giữa đánh giá định lượng và định tính sẽ giúp có được kết quả đánh giá khách quan và chính xác nhất. Báo cáo năng lực học sinh (Semantic LSI Keyword) cần được trình bày rõ ràng và dễ hiểu để phụ huynh và giáo viên có thể nắm bắt được tình hình học tập của học sinh.

31/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC QUẢN LÍ THIẾT BỊ Ở TRƯỜNG THPT 1. Về đổi mới phương pháp dạy học và các app hổ trợ dạy học trực tuyến Việc dạy học trực tuyến cho học sinh (sau đây viết tắt là HS) không phải là nhiệm vụ mới đối với giáo viên (sau đây viết tắt là GV) vì nhiều địa phương đã tổ chức triển khai trong hai năm qua để ứng phó với những ảnh hưởng của dịch bênh Covid-19. Đến nay, nhiệm vụ này tiếp tục cần được tăng cường hơn nữa (theo hướng chuyển từ ứng phó tình thế sang chủ động theo kế hoạch) khi chúng ta bước vào năm đầu tiên thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với cấp trung học cơ sở trong bối cảnh dịch bệnh tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Các địa phương và các nhà trường đã có những kinh nghiệm được đúc kết trong hai năm qua, đặc biệt là đã có đầy đủ những căn cứ pháp lí để xây dựng và tổ chức dạy học một cách linh hoạt nhằm mục tiêu kép: không chỉ thích ứng với diễn biến mới của dịch bệnh Covid-19 mà còn đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong giáo dục, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Công tác quản lí TBDH cũng là một khâu trong việc chuyển đổi số như vậy 1. Về việc xây dựng kế hoạch quản lí thiết bị học ở trường THPT - Hiệu trưởng được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc mua sắm TBDH. Tổ chuyên môn, GV được tham gia vào quá trình lập kế hoạch mua sắm, nghiệm thu TBDH. Kiểm tra, rà soát thực trạng TBDH hiện có để lập kế hoạch chi tiết sửa chữa, thay thế, nâng cấp, mua sắm bổ sung những TBDH cần thiết và đồng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu tối thiểu phục vụ dạy và học theo CT GDPT 2018.

Việc mua sắm mới phải được đặt trên cơ sở khai thác sử dụng hết công suất của những thiết bị đã được trang bị, phù hợp với điều kiện của trường: Kinh phí, cơ sở hạ tầng, đội ngũ nhân viên, GV đảm bảo khai thác sử dụng thiết bị một cách hiệu quả nhất. - Đối với TBDH tối thiểu có trong danh mục đã được Bộ GD&ĐT ban hành: Kiểm tra, rà soát thực trạng TBDH hiện có; căn cứ quy mô trường/lớp, số lượng HS để xây dựng kế hoạch mua sắm bổ sung TBDH bảo đảm đủ số lượng, chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí. - Trang bị đồng đều giữa TBDH truyền thống và TBDH hiện đại, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, thiết bị GD STEM đáp ứng nhu cầu của GV và phù hợp với điều kiện của nhà trường, phù hợp với đặc điểm riêng của vùng miền (địa phương). - Đối với những TBDH không nằm trong danh mục tối thiểu theo quy định của Bộ GD&ĐT nhưng phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng GD, đổi 5 skkn mới phương pháp dạy và học, cần căn cứ vào điều kiện CSVC, quy mô trường/lớp, số lượng HS, nguồn kinh phí và khả năng khai thác sử dụng để xác định số lượng, chủng loại để đầu tư mua sắm.

- Kiên quyết chỉ đầu tư trang bị TBDH khi nhà trường đã có đủ các điều kiện về CSVC, viên chức thiết bị, khả năng sử dụng thiết bị của GV; - Chỉ đạo, tổ chức phong trào tự làm TBDH để bổ sung, cải tiến, sửa chữa nhằm phát huy hiệu quả sử dụng TBDH đã được trang bị, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng GD; - Tăng cường công tác xã hội hóa GD trong việc mua sắm trang bị TBDH; - Tranh thủ nguồn lực về TBDH ngoài trường học của tổ chức, cá nhân trên địa bàn để triển khai các hoạt động GD, trải nghiệm, hướng nghiệp, ngoại khóa… 1. Tìm hiểu về quản lí theo dõi sử dụng TBDH TBDH ở các trường phổ thông về cơ bản đã được sử dụng vào quá trình dạy học, tình trạng “dạy chay, học chay” đã được hạn chế rất nhiều, hiệu quả sử dụng TBDH đã có những biến chuyển tích cực. Có được kết quả này trước hết là do người QL đã làm tốt vai trò, trách nhiệm với công tác TBDH trong nhà trường. Ban giám hiệu nhiều trường đã quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học trong đó có việc sử dụng TBDH của GV.

Nhiều trường phổ thông đã có các biện pháp hành chính đi đôi với khuyến khích, động viên GV sử dụng TBDH như tổ chức sinh hoạt chuyên đề về sử dụng TBDH trong từng tổ chuyên môn, đồng thời khuyến khích động viên bằng khen thưởng; thực hiện giám sát, kiểm tra và yêu cầu báo cáo việc bảo quản và sử dụng TBDH của trường và công tác TBDH luôn luôn là một nội dung trong các cuộc họp sơ kết, tổng kết hàng năm của các trường. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại một bộ phận cán bộ QL chưa làm tốt vai trò, trách nhiệm với công tác TBDH đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng và hiệu quả giáo dục (GD) của nhà trường. Nguyên nhân chính của vấn đề này là do nhận thức của một bộ phận lãnh đạo/QL nhà trường chưa coi trọng công tác TBDH, chưa đặt công tác TBDH là một trong những hoạt động hàng đầu ảnh hưởng đến chất lượng GD. Từ nhận thức đó, người QL sẽ ít có sự am hiểu về công tác TBDH, xem nhẹ việc xây dựng kế hoạch đầu tư trang bị và sử dụng TBDH trước mắt cũng như lâu dài, tính toán chi phí phù hợp với điều kiện nhà trường.

Việc sử dụng và sử dụng có hiệu quả TBDH không là bắt buộc theo quy chế đánh giá cán bộ, GV hàng năm, chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận và xây dựng cơ chế phối hợp trong QL - Về số lượng TBDH: Nhìn chung, TBDH được trang bị theo danh mục tối thiểu tại các trường tương đối đầy đủ và đáp ứng nhu cầu về số lượng. Tuy nhiên, việc mua sắm bổ sung, thay thế hàng năm các TBDH này hiện gặp một số khó khăn về nguồn cung cấp các thiết bị, các chi tiết lẻ, nguồn kinh phí mua sắm bổ sung và sửa chữa, phương pháp sửa chữa khắc phục các thiết bị hư hỏng trong quá trình sử dụng.Trong điều kiện đó thì giải pháp tự làm, tự sửa chữa, tự 6 skkn cải tiến TBDH đã góp phần khắc phục kịp thời những thiết bị còn thiếu, bổ sung các thiết bị chưa có điều kiện mua sắm, thay thế hoặc cải tiến các thiết bị hư hỏng, mất mát và phù hợp với tình hình, đặc điểm của các địa phương, cơ sở GD. Khi triển khai thực hiện CT GDPT 2018, TBDH hiện tại sẽ không còn phù hợp hoàn toàn. Cùng với đó cũng cần bổ sung TBDH của một số chủ đề, môn học, hoạt động GD mới (không có trong CT GDPT hiện hành).

- Về chất lượng TBDH: TBDH được cung cấp cho các trường theo danh mục do Bộ GD và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành nhìn chung đáp ứng được về số lượng (do các trường có thể tự chủ mua sắm bổ sung) song về chất lượng có những thiết bị còn hạn chế do không đảm bảo yêu cầu về mặt khoa học sư phạm, độ bền chắc, tính trực quan, tính thực tiễn. Một số TBDH chất lượng chưa đảm bảo, dẫn đến tình hình sử dụng TBDH không thành công. Bên cạnh rất nhiều TBDH đang phát huy rất tốt vai trò, công dụng của mình thì cũng còn nhiều TBDH đã bị “xuống cấp” làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Cơ sở thực tiễn 1.

Thực trạng nghiên cứu 1. Về giáo viên - Tình hình đội ngũ CB – GV – CNV và cơ sở vật chất và thiết bị dạy học phục vụ nhiệm vụ năm học 2021 - 2022 ở trương như sau: * Đội ngũ CB – GV – CNV trong nhà trường - Tổng số CB – GV – CNV là: 96 đ/c trong đó: - Hiệu trưởng: 01 người. - Phó hiệu trưởng chuyên môn: 01 người - Phó hiệu trưởng phụ trách an ninh nề nếp: 01 người - Phó hiệu trưởng phụ trách CSVC: 01 người. - Giáo viên: 83 người (trong đó 55 nữ, 28 nam).

- Giáo viên đạt chuẩn: 83 người, trong đó trên chuẩn: 32 người. - Cán bộ - giáo viên đang theo học cao học: 03 người. - Nhân viên: 7 đ/c , trong đó có: 01 cán bộ phụ trách thiết bị - thí nghiệm, Như vậy qua thực tiễn hoạt động dạy học diễn ra các năm học trước, chúng tôi thấy rằng bên cạnh một số GV đã rất tích cực nghiên cứu, sáng tạo và sử dụng TBDH có hiệu quả thì vẫn còn một bộ phận GV ngại sử dụng TBDH, dạy chay - học chay khi lên lớp hoặc chỉ sử dụng mang tính chất phong trào, đối phó, sử dụng TBDH để minh họa kiến thức. Tâm lí ngại sử dụng TBDH xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Do bản thân GV chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc sử dụng và sử dụng có hiệu quả thiết bị trong dạy học, vẫn còn tư tưởng “sử dụng đối phó”, tâm lí ngại sử dụng hoặc lo sợ khi sử dụng 7 skkn TBDH không thành công trong thí nghiệm, thực hành nên chưa phát huy hết nhiệt tình trong giảng dạy.

Trường vẫn còn thiếu phòng học bộ môn, phòng thực hành thí nghiệm, có khi chỉ là kho chứa thiết bị nên mỗi lần lấy thiết bị ra thực hành là cả một vấn đề; thời gian nghỉ giữa giờ, di chuyển giữa các lớp học khi GV phải mang thiết bị đi rồi lại mang thiết bị theo; một số thiết bị cồng kềnh khó di chuyển; cơ chế giám sát hoạt động sử dụng TBDH lỏng lẻo, chỉ tập trung sử dụng trong các giờ dạy mẫu, thao giảng.đã khiến cho việc sử dụng thiết bị không thường xuyên, tần suất sử dụng thấp. Việc tổ chức các hoạt động dạy học với TBDH của một bộ phận GV còn đơn điệu, phương pháp và kĩ năng sử dụng TBDH còn nhiều hạn chế, lúng túng khi sử dụng TBDH, chưa biết khai thác và tận dụng hết thông tin ở TBDH, chưa chú ý sử dụng TBDH kích thích hứng thú học tập của HS, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của các em. Việc sử dụng thiết bị dạy học ở trên lớp đòi hỏi GV phải có sự chuẩn bị, đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu bài, trong dạy học phải biết kết hợp nhiều yếu tố và biết phân phối thời gian nên nhiều GV còn ngại sử dụng chỉ cần dạy theo sách giáo khoa là đủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi và đánh giá năng lực học sinh môn Vật lý, Hóa học, Sinh học tại THPT Diễn Châu 2" trình bày những ứng dụng công nghệ thông tin trong việc theo dõi và đánh giá năng lực học sinh ở các môn học khoa học tự nhiên. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập, giúp giáo viên có thể theo dõi tiến bộ của học sinh một cách chính xác và kịp thời.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ việc áp dụng công nghệ thông tin, như cải thiện khả năng tương tác giữa giáo viên và học sinh, cũng như tạo ra môi trường học tập linh hoạt và hiệu quả hơn. Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp đánh giá năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận năng lực của pisa chương chất khí vật lí 10", nơi cung cấp thông tin về hệ thống bài tập giúp học sinh phát triển năng lực trong môn Vật lý.

Ngoài ra, bài viết "Skkn xây dựng kế hoạch và công cụ kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất năng lực học sinh trong dạy học hóa học thông qua chủ đề sulfuric acid và muối sulfate chương trình gdpt 2018" cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về việc đánh giá năng lực học sinh trong môn Hóa học.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn tốt nghiệp xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận năng lực của pisa phần cơ học vật lý lớp 10", một tài liệu hữu ích khác liên quan đến việc áp dụng các phương pháp đánh giá năng lực trong môn học này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục.