CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC QUẢN LÍ THIẾT BỊ Ở TRƯỜNG THPT 1. Về đổi mới phương pháp dạy học và các app hổ trợ dạy học trực tuyến Việc dạy học trực tuyến cho học sinh (sau đây viết tắt là HS) không phải là nhiệm vụ mới đối với giáo viên (sau đây viết tắt là GV) vì nhiều địa phương đã tổ chức triển khai trong hai năm qua để ứng phó với những ảnh hưởng của dịch bênh Covid-19. Đến nay, nhiệm vụ này tiếp tục cần được tăng cường hơn nữa (theo hướng chuyển từ ứng phó tình thế sang chủ động theo kế hoạch) khi chúng ta bước vào năm đầu tiên thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với cấp trung học cơ sở trong bối cảnh dịch bệnh tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Các địa phương và các nhà trường đã có những kinh nghiệm được đúc kết trong hai năm qua, đặc biệt là đã có đầy đủ những căn cứ pháp lí để xây dựng và tổ chức dạy học một cách linh hoạt nhằm mục tiêu kép: không chỉ thích ứng với diễn biến mới của dịch bệnh Covid-19 mà còn đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong giáo dục, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Công tác quản lí TBDH cũng là một khâu trong việc chuyển đổi số như vậy 1. Về việc xây dựng kế hoạch quản lí thiết bị học ở trường THPT - Hiệu trưởng được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc mua sắm TBDH. Tổ chuyên môn, GV được tham gia vào quá trình lập kế hoạch mua sắm, nghiệm thu TBDH. Kiểm tra, rà soát thực trạng TBDH hiện có để lập kế hoạch chi tiết sửa chữa, thay thế, nâng cấp, mua sắm bổ sung những TBDH cần thiết và đồng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu tối thiểu phục vụ dạy và học theo CT GDPT 2018.
Việc mua sắm mới phải được đặt trên cơ sở khai thác sử dụng hết công suất của những thiết bị đã được trang bị, phù hợp với điều kiện của trường: Kinh phí, cơ sở hạ tầng, đội ngũ nhân viên, GV đảm bảo khai thác sử dụng thiết bị một cách hiệu quả nhất. - Đối với TBDH tối thiểu có trong danh mục đã được Bộ GD&ĐT ban hành: Kiểm tra, rà soát thực trạng TBDH hiện có; căn cứ quy mô trường/lớp, số lượng HS để xây dựng kế hoạch mua sắm bổ sung TBDH bảo đảm đủ số lượng, chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí. - Trang bị đồng đều giữa TBDH truyền thống và TBDH hiện đại, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, thiết bị GD STEM đáp ứng nhu cầu của GV và phù hợp với điều kiện của nhà trường, phù hợp với đặc điểm riêng của vùng miền (địa phương). - Đối với những TBDH không nằm trong danh mục tối thiểu theo quy định của Bộ GD&ĐT nhưng phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng GD, đổi 5 skkn mới phương pháp dạy và học, cần căn cứ vào điều kiện CSVC, quy mô trường/lớp, số lượng HS, nguồn kinh phí và khả năng khai thác sử dụng để xác định số lượng, chủng loại để đầu tư mua sắm.
- Kiên quyết chỉ đầu tư trang bị TBDH khi nhà trường đã có đủ các điều kiện về CSVC, viên chức thiết bị, khả năng sử dụng thiết bị của GV; - Chỉ đạo, tổ chức phong trào tự làm TBDH để bổ sung, cải tiến, sửa chữa nhằm phát huy hiệu quả sử dụng TBDH đã được trang bị, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng GD; - Tăng cường công tác xã hội hóa GD trong việc mua sắm trang bị TBDH; - Tranh thủ nguồn lực về TBDH ngoài trường học của tổ chức, cá nhân trên địa bàn để triển khai các hoạt động GD, trải nghiệm, hướng nghiệp, ngoại khóa… 1. Tìm hiểu về quản lí theo dõi sử dụng TBDH TBDH ở các trường phổ thông về cơ bản đã được sử dụng vào quá trình dạy học, tình trạng “dạy chay, học chay” đã được hạn chế rất nhiều, hiệu quả sử dụng TBDH đã có những biến chuyển tích cực. Có được kết quả này trước hết là do người QL đã làm tốt vai trò, trách nhiệm với công tác TBDH trong nhà trường. Ban giám hiệu nhiều trường đã quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học trong đó có việc sử dụng TBDH của GV.
Nhiều trường phổ thông đã có các biện pháp hành chính đi đôi với khuyến khích, động viên GV sử dụng TBDH như tổ chức sinh hoạt chuyên đề về sử dụng TBDH trong từng tổ chuyên môn, đồng thời khuyến khích động viên bằng khen thưởng; thực hiện giám sát, kiểm tra và yêu cầu báo cáo việc bảo quản và sử dụng TBDH của trường và công tác TBDH luôn luôn là một nội dung trong các cuộc họp sơ kết, tổng kết hàng năm của các trường. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại một bộ phận cán bộ QL chưa làm tốt vai trò, trách nhiệm với công tác TBDH đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng và hiệu quả giáo dục (GD) của nhà trường. Nguyên nhân chính của vấn đề này là do nhận thức của một bộ phận lãnh đạo/QL nhà trường chưa coi trọng công tác TBDH, chưa đặt công tác TBDH là một trong những hoạt động hàng đầu ảnh hưởng đến chất lượng GD. Từ nhận thức đó, người QL sẽ ít có sự am hiểu về công tác TBDH, xem nhẹ việc xây dựng kế hoạch đầu tư trang bị và sử dụng TBDH trước mắt cũng như lâu dài, tính toán chi phí phù hợp với điều kiện nhà trường.
Việc sử dụng và sử dụng có hiệu quả TBDH không là bắt buộc theo quy chế đánh giá cán bộ, GV hàng năm, chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận và xây dựng cơ chế phối hợp trong QL - Về số lượng TBDH: Nhìn chung, TBDH được trang bị theo danh mục tối thiểu tại các trường tương đối đầy đủ và đáp ứng nhu cầu về số lượng. Tuy nhiên, việc mua sắm bổ sung, thay thế hàng năm các TBDH này hiện gặp một số khó khăn về nguồn cung cấp các thiết bị, các chi tiết lẻ, nguồn kinh phí mua sắm bổ sung và sửa chữa, phương pháp sửa chữa khắc phục các thiết bị hư hỏng trong quá trình sử dụng.Trong điều kiện đó thì giải pháp tự làm, tự sửa chữa, tự 6 skkn cải tiến TBDH đã góp phần khắc phục kịp thời những thiết bị còn thiếu, bổ sung các thiết bị chưa có điều kiện mua sắm, thay thế hoặc cải tiến các thiết bị hư hỏng, mất mát và phù hợp với tình hình, đặc điểm của các địa phương, cơ sở GD. Khi triển khai thực hiện CT GDPT 2018, TBDH hiện tại sẽ không còn phù hợp hoàn toàn. Cùng với đó cũng cần bổ sung TBDH của một số chủ đề, môn học, hoạt động GD mới (không có trong CT GDPT hiện hành).
- Về chất lượng TBDH: TBDH được cung cấp cho các trường theo danh mục do Bộ GD và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành nhìn chung đáp ứng được về số lượng (do các trường có thể tự chủ mua sắm bổ sung) song về chất lượng có những thiết bị còn hạn chế do không đảm bảo yêu cầu về mặt khoa học sư phạm, độ bền chắc, tính trực quan, tính thực tiễn. Một số TBDH chất lượng chưa đảm bảo, dẫn đến tình hình sử dụng TBDH không thành công. Bên cạnh rất nhiều TBDH đang phát huy rất tốt vai trò, công dụng của mình thì cũng còn nhiều TBDH đã bị “xuống cấp” làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Cơ sở thực tiễn 1.
Thực trạng nghiên cứu 1. Về giáo viên - Tình hình đội ngũ CB – GV – CNV và cơ sở vật chất và thiết bị dạy học phục vụ nhiệm vụ năm học 2021 - 2022 ở trương như sau: * Đội ngũ CB – GV – CNV trong nhà trường - Tổng số CB – GV – CNV là: 96 đ/c trong đó: - Hiệu trưởng: 01 người. - Phó hiệu trưởng chuyên môn: 01 người - Phó hiệu trưởng phụ trách an ninh nề nếp: 01 người - Phó hiệu trưởng phụ trách CSVC: 01 người. - Giáo viên: 83 người (trong đó 55 nữ, 28 nam).
- Giáo viên đạt chuẩn: 83 người, trong đó trên chuẩn: 32 người. - Cán bộ - giáo viên đang theo học cao học: 03 người. - Nhân viên: 7 đ/c , trong đó có: 01 cán bộ phụ trách thiết bị - thí nghiệm, Như vậy qua thực tiễn hoạt động dạy học diễn ra các năm học trước, chúng tôi thấy rằng bên cạnh một số GV đã rất tích cực nghiên cứu, sáng tạo và sử dụng TBDH có hiệu quả thì vẫn còn một bộ phận GV ngại sử dụng TBDH, dạy chay - học chay khi lên lớp hoặc chỉ sử dụng mang tính chất phong trào, đối phó, sử dụng TBDH để minh họa kiến thức. Tâm lí ngại sử dụng TBDH xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Do bản thân GV chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc sử dụng và sử dụng có hiệu quả thiết bị trong dạy học, vẫn còn tư tưởng “sử dụng đối phó”, tâm lí ngại sử dụng hoặc lo sợ khi sử dụng 7 skkn TBDH không thành công trong thí nghiệm, thực hành nên chưa phát huy hết nhiệt tình trong giảng dạy.
Trường vẫn còn thiếu phòng học bộ môn, phòng thực hành thí nghiệm, có khi chỉ là kho chứa thiết bị nên mỗi lần lấy thiết bị ra thực hành là cả một vấn đề; thời gian nghỉ giữa giờ, di chuyển giữa các lớp học khi GV phải mang thiết bị đi rồi lại mang thiết bị theo; một số thiết bị cồng kềnh khó di chuyển; cơ chế giám sát hoạt động sử dụng TBDH lỏng lẻo, chỉ tập trung sử dụng trong các giờ dạy mẫu, thao giảng.đã khiến cho việc sử dụng thiết bị không thường xuyên, tần suất sử dụng thấp. Việc tổ chức các hoạt động dạy học với TBDH của một bộ phận GV còn đơn điệu, phương pháp và kĩ năng sử dụng TBDH còn nhiều hạn chế, lúng túng khi sử dụng TBDH, chưa biết khai thác và tận dụng hết thông tin ở TBDH, chưa chú ý sử dụng TBDH kích thích hứng thú học tập của HS, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của các em. Việc sử dụng thiết bị dạy học ở trên lớp đòi hỏi GV phải có sự chuẩn bị, đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu bài, trong dạy học phải biết kết hợp nhiều yếu tố và biết phân phối thời gian nên nhiều GV còn ngại sử dụng chỉ cần dạy theo sách giáo khoa là đủ.