CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC VIẾT CỦA HỌC SINH LỚP 5 1. Các vấn đề chung về năng lực 1. Khái quát chung về năng lực Năng lực là một khái niệm rộng, với nhiều cách hiểu và được nhìn nhận trên nhiều lĩnh vự khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng. So với kĩ năng, năng lực có phạm vi nghĩa rộng hơn.
Theo từ điển Tiếng Việt [34], kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn”. H Salgnick [35], “năng lực không chỉ là kiến thức, kĩ năng, nó nhiều hơn thế. Năng lực bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động các nguồn lực tâm lý (bao gồm cả kĩ năng và thái độ) trong một hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, khả năng giao tiếp hiệu quả là một năng lực dựa trên kiến thức của mỗi cá nhân về ngôn ngữ, kĩ năng thực hành và thái độ hướng tới những người mà ta đang giao tiếp”.
Trong Lý luận dạy học hiện đại, năng lực được quan niệm là “điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức” [4]. Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm “know - how” chứ không chỉ biết và hiểu “know -what”. Biết làm cần được hiểu bao gồm hệ thống tri thức - kĩ năng - thái độ mà người học thực hiện trong các hoạt động cụ thể và giải quyết các tình do cuộc sống đặt ra [39]. Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo xếp năng lực vào phạm trù hoạt động và giải thích: năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như 10 hứng thú, niềm tin, ý chí.
để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Tóm lại, có thể hiểu: Năng lực là sự thực hiện đạt hiệu quả cao một hoạt động (công việc) cụ thể trong một lĩnh vực cụ thể, năng lực được hình thành dựa vào tố chất sẵn có của cá nhân. Thông qua quá trình rèn luyện, học tập và thực hành năng lực ngày càng phát triển, hoàn thiện đảm bảo cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong một lĩnh vực cụ thể tương ứng với năng lực mà mình có. Năng lực của con người được hình thành trên cơ sở tư chất sẵn có của mỗi cá nhân, được phát triển thông qua quá trình công tác, học tập và rèn luyện.
Năng lực có ba đặc trưng cơ bản, đó là: được bộc lộ thông qua hoạt động; thể hiện sự hiệu quả (thành công hoặc chất lượng cao) của hoạt động; thể hiện sự phối hợp (tổng hợp, huy động) từ nhiều nguồn lực. Có nhiều cách phân chia năng lực khác nhau song phổ biến vẫn nhất là cách phân chia thành hai loại: năng lực chung và năng lực riêng (năng lực chuyên biệt). Năng lực chung và năng lực chuyên biệt Năng lực chung bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực nhận thức, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực trí tuệ, năng lực vận động….Đó là những năng lực cơ bản được hình thành từ bản năng của con người, được phát triển thông qua quá trình giáo dục, lao động và học tập. Năng lực chuyên biệt được hình thành và phát triển để đáp ứng cho những yêu cầu, hoạt động theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt.
Ví dụ: năng lực âm nhạc, mĩ thuật, toán học. Năng lực chuyên biệt góp phần hình thành và phát triển năng lực chung. Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới có hiệu lực từ ngày 15/2/2019 và được áp dụng từ năm 2020. 11 Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu lên 5 phẩm chất, 10 năng lực chủ yếu cần hình thành, phát triển ở học sinh.
Năm phẩm chất đó là: yêu nước; nhân ái (yêu quý mọi người; tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người); chăm chỉ (chăm học; chăm làm); trung thực; trách nhiệm (có trách nhiệm với bản thân; có trách nhiệm với gia đình; có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; có trách nhiệm với môi trường sống). Mười năng lực cốt lõi gồm: năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực ngôn ngữ; năng lực tính toán; năng lực tìm hiểu tự nhiên; năng lực tìm hiểu xã hội; năng lực Công nghệ; năng lực Tin học; năng lực thẩm mỹ; năng lực thể chất Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh. Năng lực ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ (language competence) gồm các thành tố sau: những kiến thức về ngôn ngữ gồm hệ thống chữ cái, chính tả, phát âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ…; những kĩ năng về ngôn ngữ: hai kĩ năng nghe, đọc để tiếp nhận từ bên ngoài, hai kĩ năng nói, viết do chủ thể tạo ra; tình cảm, thái độ đối với ngôn ngữ đang sử dụng: ý thức học hỏi, tích lũy những hiểu biết về ngôn ngữ, trân trọng, giữ gìn sự trong sáng, làm giàu thêm cho ngôn ngữ… Năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực giao tiếp là hai nhóm năng lực khác nhau song chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mặc dù tiếng Việt chỉ là một trong những phương tiện để thực hiện giao tiếp nhưng lại đóng vai trò quan trọng nhất.
Muốn phát triển năng lực giao tiếp cần phải hình thành và phát triển năng lực tiếng Việt vì hiệu quả giao tiếp phụ thuộc vào năng lực tiếng Việt và sự kheo léo khi kết hợp với một số năng lực khác. 12 Bốn năng lực đọc, viết, nói, nghe là bốn năng lực bộ phận. Để hình thành và phát triển tốt bốn năng lực bộ phận này, cần hình thành cho học sinh năng lực nhận thức về các quy tắc ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ (gọi tắt là năng lực nhận thức) như: dùng từ, đặt câu, phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu từ v. Năng lực nhận thức gồm hai mảng nhận thức cơ bản: Thứ nhất là nhận thức về các đơn vị ngôn ngữ, các quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, các quy tắc kết hợp các đơn vị ngôn ngữ thành những đơn vị lớn hơn.
Thứ hai là nhận thức văn hoá giao tiếp - nhận thức về các điều kiện sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong thực tiễn. Nếu nhóm nội dung thứ nhất giúp học sinh có thể dụng từ, đặt câu đúng ngữ pháp tiếng Việt thì nhóm nội dung thứ hai sẽ giúp học sinh sử dụng các câu được đặt ra phù hợp với tình huống giao tiếp, giúp cho qua trình giao tiếp đạt được hiệu quả cao. Trong bài viết “Dạy học Tiếng Việt trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực” được cập nhật ngày 1/12/2014 trên trang nguvan.TS Đỗ Việt Hùng đã chia các năng lực bộ phận thành các năng lực cụ thể. Đối với học sinh tiểu học, năng lực đọc bao gồm: Năng lực đọc đúng, đọc diễn cảm; năng lực đọc thầm; năng lực đọc - hiểu, năng lực đọc nhanh, đọc lướt để xác định nội dung chính của văn bản; năng lực đọc để tóm tắt văn bản, thu thập thông tin phục vụ cho một chủ đề cho trước.Năng lực nói bao gồm: năng lực phát âm đúng các phụ âm, nguyên âm; năng lực đặt câu; năng lực kể chuyện, trình bày, yêu cầu, đề nghị; năng lực nói về một nội dung cho trước; năng lực phát biểu ý kiến, thuyết trình, giải thích trước đám đông; năng lực đối thoại, trao đổi.
Năng lực nghe bao gồm năng lực nghe - hiểu; năng lực đánh giá, nhận xét; năng lực nghe - phản hồi ý kiến của người khác; năng lực nghe - tóm tắt ý chính. Năng lực viết Viết văn bản có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc học viết. Mọi loại văn bản trong đời sống, trong công việc đều cần được viết một cách có kỹ 13 năng. Năng lực viết là khả năng của mỗi người để thực hiện hành động viết văn bản nhằm đạt được một chủ đích về giao tiếp một cách hiệu quả.
Năng lực viết được xem là năng lực chung vì viết liên quan đến nhiều môn học. Trong môn Tiếng Việt, viết lại được coi là năng lực chuyên biệt (năng lực chuyên môn) vì kết quả bài viết của học sinh chính là sự phản ánh hiểu biết của các em về kiến thức Tiếng Việt, là sự bày tỏ tình cảm, thái độ của các em đối với cuộc sống. Năng lực viết còn có mối liên quan mật thiết với các năng lực khác. Học sinh lớp 5 cần có những kĩ năng viết cơ bản sau: kĩ năng viết đúng chính tả; kĩ năng viết câu, đoạn văn, văn bản miêu tả, kể chuyện thể hiện đúng suy nghĩ của cá nhân, bộc lộ cảm xúc phù hợp, sử dụng dấu câu thích hợp; kĩ năng viết lời nhắn cá nhân, viết thư; kĩ năng điền các mẫu tờ khai; kĩ năng trích dẫn ý kiến người khác trong bài viết.
Trong các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn của môn Tiếng Việt lớp 5, dạy làm văn hay dạy tạo lập văn bản được coi là một nhiệm vụ mang tính thử thách nhất đối với giáo viên. Để hình thành và phát triển năng lực viết cho học sinh, giáo viên cần phải trang bị cho mình kiến thức-kĩ năng về nhiều lĩnh vực, giáo viên phải có khả năng tạo ra các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ mà mình muốn có ở học sinh, phải có kĩ năng thị phạm và các kĩ năng Tiếng Việt thành thạo để tạo mẫu khi cần thiết. Để có năng lực viết thực sự, cần tạo cho các em thói quen, cách làm việc nghiêm túc với từng từ ngữ, có ý thức chia sẻ với cô giáo, với các bạn về sự hứng khởi của việc lựa chọn từ này thay vì từ khác, của việc tìm kiếm những từ ngữ thực sự thể hiện được suy nghĩ, cảm xúc của bản thân. Năng lực viết đòi hỏi sự sáng tạo, sự tự khám phá ý tưởng của chính bản thân người viết; đòi hỏi phải có thời gian và những phản hồi tích cực từ giáo viên, bạn học thì mới có thể tạo ra các bài viết tốt.
Một số vấn đề về đánh giá năng lực trong dạy học ở tiểu học 1.