Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [29]. Đơn vị sự nghiệp công lập gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); - Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ).
Viên chức Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển đất nước khác nhau, thuật ngữ "cán bộ, công chức, viên chức" được sử dụng phổ biến, nhưng có những thay đổi khác nhau, chưa có khái niệm tách bạch, cụ thể và rõ ràng. Trong một thời gian khá dài, tất cả những người được tuyển dụng vào biên chế làm việc trong các cơ quan, nhà máy, công trường, xí nghiệp đều được gọi chung là cán bộ, công nhân viên nhà nước. Không có sự phân biệt chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động của từng loại hình tổ chức để xác định thế nào là viên chức. Điều 8, Hiến pháp năm 1992 không sử dụng thuật ngữ công chức mà sử dụng thuật ngữ cán bộ viên chức: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự quan sát của nhân dân”.
8 Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi bổ sung năm 2003, không có quy định cán bộ, công chức, viên chức riêng mà quy định cán bộ và công chức chung một nhóm là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật … Đối tượng điều chỉnh của Pháp lệnh còn chưa rõ ràng, vẫn chưa có sự phân biệt giữa viên chức với các loại nhân sự khác. Điều 2 Luật Viên chức (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012) quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Như vậy đến khi Luật Viên chức được ban hành, thì thuật ngữ viên chức chức mới được được tách thành một nhóm riêng biệt. Viên chức được xác định một cách rõ ràng hơn, đặc biệt là phân biệt một cách cụ thể giữa viên chức với lực lượng nhân sự trong các tổ chức khác.
Tuyển dụng Thuật ngữ tuyển dụng được hiểu như là một quá trình để tìm được người để đưa vào tổ chức hay chuyển từ nguồn nhân lực (nguồn lao động xã hội nói chung và nguồn lao động tiềm năng của tổ chức) để đưa vào tổ chức [21, tr. Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau những người đủ khả năng đảm nhận những công việc nhất định của tổ chức [21, tr. Tuyển dụng nhân sự là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức, công ty, hoặc một chương trình tự nguyện hay nhóm cộng đồng. Tại các công ty cỡ nhỏ, các lãnh đạo trực tiếp hoặc phòng nhân sự thường tham gia trực tiếp vào quá trình tuyển dụng.
Trong khi đó, các công ty cỡ lớn có thể thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ quy trình tuyển dụng cho các đơn vị làm dịch vụ nhân sự, (theo Bách khoa toàn thư mở). Tuyển dụng viên chức 9 Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập để đảm bảo ổn định về cơ cấu tổ chức và phát triển của tổ chức, đòi hỏi phải có đội ngũ viên chức có trình độ và năng lực, vì vậy việc thu hút và tuyển dụng nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong việc tồn tại và phát triển của tổ chức đó. Chính vì vậy Luật Viên chức quy định rất cụ thể: “Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”. Tiêu chí đảm bảo các hoạt động trong tuyển dụng viên chức Để tuyển dụng có hiệu quả cần phải đảm bảo các hoạt động cơ bản sau [21, tr.452]: - Nguồn tuyển dụng: Xác định đúng nguồn tuyển dụng có thể vừa giảm được chi phí tuyển dụng vừa lựa chọn được người phù hợp.
- Nguyên tắc tuyển dụng: Tuân thủ các nguyên tắc trong tuyển dụng. - Quy trình tuyển dụng: Xác định các bước trong quy trình tuyển dụng. Việc quy định các bước chỉ mang tính chất tương đối. Tổ chức có thể căn cứ vào số lượng, tính chất và yêu cầu công việc để xác định rõ, chuẩn bị chu đáo và tổ chức thực hiện tốt các bước trong quy trình tuyển dụng.
Nếu cần thiết có thể bỏ hoặc kết hợp một số bước tuyển dụng để rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí mà vẫn đạt được mục tiêu của tổ chức đó đề ra. - Hội đồng tuyển dụng: Thành lập Hội đồng tuyển dụng và lựa chọn đúng người tham gia vào tuyển dụng. Người tham gia tuyển dụng phải là người có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tuyển dụng. Cần phải chú ý trong vấn đề lựa chọn người tham gia vào quá trình tuyển dụng với tư cách là nhà tuyển dụng bởi những người này là đại diện của tổ chức, họ được trao quyền quyết định loại bỏ ứng viên không phù hợp trong các giai đoạn tuyển dụng.
Vì vậy, họ cần phải là những người có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tuyển 10 dụng để có thể tư vấn cho Hội đồng tuyển dụng và ra quyết định đúng đắn liên quan đến các ứng viên. - Phương pháp tuyển chọn: Lựa chọn phương pháp chọn người phù hợp hoặc kết hợp các phương pháp khác nhau để có được thông tin cần thiết là cơ sở đánh giá về các ứng viên. - Sai sót trong tuyển dụng: Hạn chế tối đa các sai sót trong tổ chức thi viết, trắc nghiệm hay phỏng vấn… các ứng viên. - Tập sự, kèm cặp người mới tuyển.
Chú trọng quá trình tập sự, hướng dẫn, kèm cặp những người mới tuyển sau khi họ đã được nhận vào làm việc. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC 1. Văn bản quản lý nhà nước về tuyển dụng viên chức Sau khi Luật viên chức được ban hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật được ban hành, là cơ sở để các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Y tế căn cứ để tổ chức thực hiện công tác tuyển dụng viên chức, cụ thể: Luật Viên chức (Luật số 58/2010/QH12); Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức; Quy chế thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và Nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức. Các Thông tư của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định ngạch, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quy định phân cấp việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức của các tỉnh.
Quy định về tuyển dụng viên chức 11 1. Điều kiện tuyển dụng Theo Điều 22 Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, người đăng ký dự tuyển vào làm viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập phải đảm bảo các điều kiện sau: - Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam; - Từ đủ 18 tuổi trở lên. Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật; - Có đơn đăng ký dự tuyển; - Có lý lịch rõ ràng; - Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm; - Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ; Ngoài các điều kiện trên, người đăng ký dự tuyển phải có để tiêu chuẩn về phẩm chất chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực theo yêu cầu vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp. Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật và phải được cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập phê duyệt trước khu thực hiện.
Nguyên tắc tuyển dụng viên chức Theo Điều 21 Luật Viên chức, việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật. - Bảo đảm tính cạnh tranh. - Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm. - Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
12 - Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số. Phương thức tuyển dụng viên chức Theo Điều 23 Luật Viên chức, việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển. Quy trình tuyển dụng viên chức Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo quy trình theo quy định của pháp luật về viên chức: - Thứ nhất, xây dựng kế hoạch tuyển dụng: Căn cứ số lượng người làm việc được giao, nhu cầu công việc, vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
Hàng năm đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng kế hoạch tuyển dụng viên chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc quyết định theo thẩm quyền trước khi tổ chức thực hiện.