Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “Nhân lực” Theo Lê Thanh Hà: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người.
Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, .), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê”.20] Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động”.
Trong khu vực công, nhân lực là nguồn lực trong mối cán bộ, công chức, viên chức và những người theo hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, được phân chia thành nhiều nhóm với tên gọi khác nhau; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về CBCCVC và các văn bản có liên quan Như vậy, ở góc độ đơn vị sự nghiệp công lập thì nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm toàn bộ viên chức, người lao động làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập, do Nhà nước trả lương và thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách, nhiệm vụ được giao. Khái niệm “Viên chức” Theo Bộ Luật lao động 2019 của Việt Nam: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối 8 thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này”. [6] Theo Luật Viên chức số 58/2010/QH12 và Luật Viên chức sửa đổi bổ sung 2019 của Việt Nam: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
[7] Viên chức được phân loại theo các tiêu chí cơ bản sau: Một là, theo chức trách, nhiệm vụ, viên chức được phân loại như sau: Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý; Viên chức không giữ chức vụ quản lý là người chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập. Hai là, theo trình độ đào tạo, viên chức được phân loại như sau: Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo tiến sĩ; Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo thạc sĩ; Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo đại học; Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo cao đẳng; Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp Trong đó, vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng; là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm “Đơn vị sự nghiệp công lập” Theo Luật Viên chức số 58/2010/QH12 của Việt Nam: “Đơn vị sự nghiệp 9 công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước”. [7] Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm, nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.
Với mục đích đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập; tách chức năng quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp công lập, Luật Viên chức chia đơn vị sự nghiệp công lập thành hai loại hình cơ bản: (1) Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); (2) Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ). Về phương diện quản lý tổ chức bộ máy và nhân lực, mục đích của việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập nhằm tạo căn cứ cho việc xác định cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng công chức, viên chức, người lao động. Trong đó, viên chức là lực lượng nòng cốt và chiếm số lượng lớn trong đơn vị sự nghiệp công lập. Tuyển dụng viên chức là chức năng có tính chất quyết định số lượng, cơ cấu và chất lượng đầu vào của viên chức; đồng thời, ảnh hưởng đến các chức năng khác trong quản trị viên chức.
Khái niệm “ Tuyển dụng nhân lực” Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm nhận định: “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ những nguồn khác nhau 10 những nhân viên đủ khả năng đảm nhiệm những vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển” [8, tr.362] Theo Đoàn Văn Tình và nhóm tác giả: “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút những người có trình độ từ lực lượng lao động bên ngoài xã hội và bên trong tổ chức từ đó đánh giá ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc để lựa chọn được nhân lực phù hợp nhất với nhu cầu của tổ chức” [13, tr. Theo tác giả Mai Thanh Lan “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp” [4, tr. Theo Luật Viên chức số 58/2010/QH12 của Việt Nam: “Tuyển dụng viên chức là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”. [7] Theo Đoàn Văn Tình và nhóm tác giả: “Tuyển dụng viên chức là việc tuyển mộ và lựa chọn người có phẩm chất và năng lực phù hợp vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Tuyển dụng viên chức là công việc khó khăn, phức tạp và phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” [13, tr.184] Theo đó, quá trình tuyển dụng viên chức phải tuân thủ các quy định chung về đảm bảo công bằng, minh bạch, không phân biệt chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, và giới tính. Ngoài ra, các CQNN, đơn vị sự nghiệp công lập phải công khai thông tin về các vị trí công tác cần tuyển, yêu cầu, tiêu chuẩn và điều kiện tuyển dụng, kế hoạch tuyển dụng, quy trình tuyển dụng, hồ sơ ứng viên đã đăng ký. Các ứng viên được tuyển dụng viên chức phải đáp ứng các tiêu chuẩn và yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người công chức. Quy trình tuyển dụng bao gồm các giai đoạn kiểm tra hồ sơ, thử việc và đánh giá 11 năng lực.
Kết quả tuyển dụng được công bố công khai. Quy trình tuyển dụng viên chức được quy định một cách cẩn thận và nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, độc lập, trung thực và hiệu quả trong việc quản lý nhân sự của các cơ quan Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Mục tiêu chính của việc tuyển dụng là thu hút và lựa chọn những ứng viên có đủ phẩm chất, kỹ năng và đạo đức để phục vụ cho mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức. Vai trò và nguyên tắc của tuyển dụng nhân lực trong đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập Tuyển dụng nhân lực là yếu tố quyết định cơ cấu đầu vào của đơn vị sự nghiệp công lập, giúp bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức. Tuyển dụng nhân lực tốt, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quản trị nhân lực khác trong đơn vị, đồng thời tạo thuận lợi cho việc sắp xếp, bố trí nhân lực vào các vị trí, qua đó phát huy tối đa năng lực sở trường của nhân lực, góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nhân lực. Tuyển dụng nhân lực là yếu tố then chốt, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nguồn nhân lực của tổ chức, giúp bù đắp sự thiếu hụt lao động, cung cấp một đội ngũ lao động đáp ứng về cả số lượng lẫn chất lượng, đảm bảo nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị. Tuyển dụng nhân lực hiệu quả giúp tổ chức tiết kiệm được chi phí nhân lực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của tổ chức.
Lựa chọn nhân lực có năng lực phù hợp với vị trí cần tuyển sẽ thu hẹp khoảng cách giữa yêu cầu công việc và năng lực của nhân lực do vậy tiết kiệm chi phí đào tạo. Mặt khác, với vai trò là chủ thể của các hoạt động, con người sử dụng vốn, máy móc, cơ sở vật chất kỹ thuật. vì vậy khi tuyển được người phù hợp sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của tổ chức, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm 12 dịch vụ của tổ chức.