CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC 1. Khái niệm liên quan đến tuyển dụng lao động 1. Khái niệm nguồn nhân lực Lao động được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người. Nó bao gồm cả thể lực và trí lực.
Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, độ lớn, sức bền của lực…), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng, sức sáng tạo, lòng đam mê… Lao động chính là lao động con người mà không máy móc nào thay thế được. Con người là tài sản quan trọng nhất mà một doanh nghiệp có. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó” [7, tr.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Lao động Xã hội thì: “Nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức” [6, tr. Như vậy, tác giả cho rằng khái niệm của giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Lao động Xã hội là bao quát và đầy đủ hơn cả. Tức là Nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ.
Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người 6 thất nghiệp). Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động. Khái niệm tuyển dụng Tuyển dụng lao động là một quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cho các công việc và các chức danh cần người trong doanh nghiệp. Theo khía cạnh khác tuyển dụng lao động là quá trình thu hút và lựa chọn lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Tuyển dụng lao động là một trong những hoạt động quan trọng của quản trị nguồn nhân lực. Quá trình tuyển dụng bao gồm quá trình tuyển mộ, quá trình tuyển chọn, định hướng nhân viên mới. Tuyển mộ Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức” [7, tr. Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Lao động –Xã hội thì: “Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động bên ngoài và bên trong tổ chức để lựa chọn lao động cho các vị trí làm việc còn trống của tổ chức” [6, tr.
Từ những khái niệm trên, tác giả rút ra Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao đông bên trong tổ chức để lựa chọn lao động cho các vị trí làm việc còn khuyết của tổ chức. Kết thúc quá trình tuyển mộ, tổ chức sẽ thu được đơn xin việc của người lao động. Mục tiêu của tuyển mộ là đưa thông tin tuyển dụng tới những người đang làm việc và những người có khả năng phù hợp với các vị trí công việc cần tuyển dụng của tổ chức. Ngoài ra, tuyển mộ còn là phương pháp hữu hiệu để quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp.
Quá trình tuyển mộ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của quá trình tuyển 7 chọn. Tuyển mộ là khâu cung cấp đầu vào cho tuyển chọn. Quá trình tuyển mộ được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tuyển chọn, tiết kiệm chi phí tuyển dụng và tổ chức sẽ tìm được người lao động phù hợp với công việc. Ngược lại, nếu thực hiện không tốt quá trình tuyển mộ thì những người lao động có trình độ cao, có khả năng đáp ứng công việc có thể đã không được lựa chọn hoặc có ít người nộp đơn xin việc hơn so với nhu cầu tuyển dụng thì tuyển chọn cũng không hiệu quả.
Tuyển mộ không chỉ ảnh hưởng tới tuyển chọn mà còn ảnh hưởng tới nhiều chức năng khác của quản trị nhân lực như đánh giá thực hiện công việc, thì lao lao động, các mối quan hệ lao động…. Tuyển chọn Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Lao động-Xã hội thì: “Tuyển chọn là việc lựa chọn ứng viên cho các vị trí làm việc còn trống của tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của tổ chức đó cho các chức danh công việc cần tuyển dụng” [6, tr. Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Tuyển chọn là đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ” [7, tr. Như vậy, từ những khái niệm trên, tác giả rút ra khái niệm của Tuyển chọn được hiểu là việc lựa chọn ứng viên cho các vị trí làm việc trống của tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của tổ chức đó cho các chức danh công việc cần tuyển dụng.
Tuyển chọn là khâu công việc kế tiếp tuyển mộ. Sau khi tổ chức đã tuyển mộ được các ứng viên cho các chức danh công việc còn trống, quá trình tuyển chọn sẽ diễn ra. Cơ sở của tuyển chọn là yêu cầu của công việc đã được đề ra theo bản mô tả công việc, bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc. Quá trình tuyển chọn phải đáp ứng được các yêu cầu dưới đây: - Tuyển chọn phải xuất phát từ kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch hóa nguồn nhân lực của công ty.
- Tuyển chọn được những người lao động có trình độ phù hợp với yêu cầu công việc nhằm đạt được năng suất lao động cao. 8 - Tuyển chọn được người có đủ sức khỏe, đạo đức, kỷ luật, trung thực, có động cơ làm việc tốt, có khả năng gắn bó lâu dài với công ty. Định hướng nhân viên Hoạt động định hướng (hay còn gọi là hội nhập nhân viên) đối với ứng viên được tuyển vào làm việc là chương trình nhằm giúp người lao động mới làm quen với công việc nhanh chóng và bắt đầu công việc một cách có hiệu quả. Nội dung công tác tuyển dụng lao động 1.
Tuyển mộ lao động 1. Nguồn tuyển mộ Khi có nhu cầu tuyển dụng, các tổ chức có thể tuyển mộ từ lực lượng lao động bên trong tổ chức cũng như từ thị trường lao động bên ngoài. Mỗi nguồn đều có ưu và nhược điểm riêng. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà tổ chức quyết định nên tuyển mộ từ nguồn nào.
Ø Nguồn nhân lực bên trong tổ chức Nguồn này bao gồm những người đang làm việc cho tổ chức. Nguồn bên trong thường được ưu tiên hàng đầu bởi nhiều ưu điểm của nó. Nguồn bên trong bao gồm những người lao động đã qua thử thách về long trung thành, thái độ nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm với công việc. Sử dụng nguồn này sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí tuyển dụng.
Người lao động quen với công việc trong tổ chức khiến quá trình công việc được diễn ra liên tục. Họ dễ dàng thích nghi với công việc mới hơn. Họ đã quen với những đặc điểm, mục tiêu, định hướng và văn hóa của tổ chức nên ít bỏ việc. Sử dụng nguồn nội bộ sẽ hạn chế được tối đa các quyết định sai trong đề bạt và thuyên chuyển lao động.
Đồng thời, hình thức tuyển dụng trực tiếp tiếp từ các nhân viên đang làm việc tại tổ chức sẽ tạo ra sự thi đua giữa các nhân viên, làm tăng sự thỏa mã đối với công việc, tăng được tình cảm và long trung thành đối với tổ chức. Họ sẽ làm việc với một động lực mới, thúc đẩy quá trình làm việc được tốt hơn. Tổ chức thường sử dụng nguồn nội bộ khi tuyển dụng những vị trí quản lý cấp trung và cấp cao. 9 Tuy nhiên, nguồn này cũng có một số nhược điểm cần khắc phục.
Khi đề bạt những người đang làm việc trong tổ chức có thể hình thành nhóm những người không được bổ nhiệm. Họ thường có biểu hiện không phục lãnh đạo, bất hợp tác với lãnh đạo… Điều đó gay tâm lý chia bè phái, tạo nên mâu thuẫn nội bộ. Những nhân viên cũ của tổ chức đã quen với phong cách làm việc của cấp trên trước đây. Họ có thể sẽ dập khuôn theo cách làm việc đó, làm việc thiếu sang tạo, không tạo ra được sự mới mẻ trong phong cách làm việc.
Đối với những tổ chức có quy mô nhỏ, việc chỉ sử dụng nguồn nội bộ sẽ không làm cho tổ chức thay đổi chất lượng lao động. + Ưu nhược điểm của nguồn bên trong. Tạo ra sự thi đua giữa các nhân viên. Nhân viên hiểu biết về mục tiêu, cách thức làm việc của doanh nghiệp nên sẽ thuận lợi trong công việc.
Nhân viên đã được thử thách về lòng trung thành, tính tận tụy, tinh thần trách nhiệm với doanh nghiệp. Tiết kiệm được thời gian làm quen với công việc. + Hạn chế của nguồn nhân lực bên trong. Tạo ra “lối mòn quản lý” không có tính mới, rất ít sự thay đổi lớn xảy ra Tạo ra “mất đoàn kết nội bộ” nếu việc tuyển chọn không đảm bảo tính công bằng.
Phát sinh những khó khăn từ nơi nhân viên đến và nơi nhân viên để lại. Ø Nguồn tuyển mộ từ bên ngoài tổ chức Nguồn này bao gồm những người mới đến xin việc.