phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, luận văn có 3 chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tuyển dụng công chức Chƣơng 2. Thực trạng tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội vụ Chƣơng 3. Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lƣợng tuyển dụng công chức tại cơ quan Bộ Nội vụ 21 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Công chức Thuật ngữ công chức xuất hiện mang tính lịch sử, không phải trong bất cứ thời kỳ nào của nhà nước cũng có thuật ngữ công chức, nó chỉ xuất hiện cách đây vài thế kỷ dưới nhà nước tư bản. Nội dung của nó phụ thược rất nhiều vào đặc điểm của mỗi quốc gia và từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Tại mỗi quốc gia khác nhau, với hoạt động công vụ khác nhau, chế độ chính trị khác nhau, nền văn hóa khác nhau ảnh hưởng rất lớn đến nền công chức của nước đó, dẫn đến khái niệm công chức của mỗi nước là khác nhau.
Ở Pháp, theo Từ điển Petit Larousse năm 1991, công chức được định nghĩa như sau: Nhân viên của nhà nước được biên chế vào một công việc thường xuyên liên tục, trong một ngạch của thứ bậc hành chính, biên chế của một ngành công vụ. Theo Điều 2 Chương II của Quy chế chung về công chức nhà nước của Pháp ban hành năm 1994, khái niệm công chức được ấn định như sau: Công chức là những người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc trong các công sở nhà nước. Trong những năm gần đây, khái niệm công chức được nhiều nhà nghiên cứu Pháp thừa nhận như sau: Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công. Theo quan niệm trên, công chức Pháp gồm 3 loại: Công chức hành chính nhà nước, trực thuộc các Bộ trưởng quản lý; công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ (tỉnh, vùng, xã), làm việc cho chính quyền lãnh thổ - loại 22 Luan van này không thuộc công chức hành chính nhà nước; công chức trực thuộc các công sở tự quản, trong đó có các bệnh viện [21].
Ở Anh, năm 1859, khái niệm công chức lần đầu tiên xuất hiện trong “Luật nghỉ hưu”. Theo Luật này, công chức bao gồm: Những người do vua Anh trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ, cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự và những người được hưởng tiền lương cấp từ Ngân sách thống nhất của Vương quốc hoặc từ các khoản được Quốc hội thông qua. Từ năm 1977, Hạ viện Anh đã yêu cầu đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về công chức, nhấn mạnh một đặc điểm rất quan trọng của công chức là “thay mặt nhà nước giải quyết việc công” [22]. Những người không có vị trí công tác trong cơ quan nhà nước được pháp luật quy định thì không phải công chức.
Như vậy, ở Anh, “khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính - ví dụ như nội chính và ngoại giao” [21]. Ở Mỹ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị như: bộ trưởng, thứ trưởng, trợ lý bộ trưởng (còn gọi là công chức chính trị hay công chức chức nghiệp), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính. Các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ trong ngành lập pháp và những viên chức làm thuê cho Quốc hội thì không phải là công chức. Luật công chức chỉ điều chỉnh những công chức không phải được bổ nhiệm về chính trị.
Quan hệ giữa Chính phủ và công chức là quan hệ giữa chủ thuê với người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theo quy phạm luật hành chính, còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự [22]. Ở Cộng hòa liên bang Đức, công chức được coi là một nhóm người có nghề nghiệp đặc biệt trong xã hội so với các nhóm nghề nghiệp khác. Luật Công chức ở Đức coi “công chức là những người phục vụ ở các tổ chức xã hội, tổ chức xây dựng cơ sở vật chất và tài chính, có quan hệ làm việc và tín nhiệm theo luật chung”. Những người chịu sự chỉ huy, kiểm tra, đôn đốc trực 23 Luan van tiếp của liên bang là công chức liên bang; còn những người phục vụ ở các tổ chức xã hội, tổ chức xây dựng cơ sở vật chất và tài chính theo luật chung, trực tiếp lệ thuộc Chính phủ liên bang là công chức gián tiếp.
Tất cả những người trên đây đều được gọi chung là công chức. Công chức ở Cộng hòa liên bang Đức bao gồm những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do Nhà nước quản lý, các nhân viên làm việc trong các cơ quan Chính phủ, nhân viên lái xe lửa [22]. Ở Nhật Bản, công chức được chia thành công chức nhà nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước bao gồm những nhân viên giữ những chức vụ trong bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành Tư pháp, Quốc hội, quân đội, nhà trường, bệnh viện quốc lập, được hưởng lương từ Ngân sách nhà nước.
Công chức nhà nước được chia thành 2 loại: công chức chung và công chức đặc biệt. Công chức đặc biệt là loại công chức được bổ nhiệm không qua thi cử, theo pháp luật quy định. Có 18 loại nhân viên thuộc công chức đặc biệt như Thủ tướng nội các, quốc vụ đại thần (tương đương Bộ trưởng), còn lại đều thuộc loại công chức chung. Công chức địa phương hưởng lương từ Ngân sách của địa phương [22].
Ở Trung Quốc, theo Luật công chức được ban hành năm 2005, công chức được hiểu là những người công tác trong cơ quan Nhà nước, của Mặt trận chính hiệp, tổ chức chính trị, trừ nhân viên phục vụ. Công chức nhà nước gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người được tuyển vào công chức và được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo. Các công chức này được bổ nhiệm theo các trình tự nhất định, chịu sự điều chính của Hiến pháp. Luật công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp; Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Luật Công chức.
Công chức nghiệp vụ chiếm tuyệt đại đa số công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật [2]. 24 Luan van Ở Việt Nam, thuật ngữ “công chức” được du nhập từ khi có sự cai trị của chính quyền thực dân Pháp. Xét về mặt văn bản thì lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20-5-1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký đã đề cập đến thuật ngữ công chức. Sắc lệnh này quy định rất rõ về quy chế công chức, theo đó, thuật ngữ công chức được đưa vào chính thức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [tr3].
Theo Sắc lệnh thì công chức chỉ có ba dầu hiệu cơ bản là: công dân Việt Nam, làm việc có tính thường xuyên, trong các cơ quan của Chính phủ. Như vậy việc hiểu công chức rất dễ và đơn giản, phân biệt trong thực tế rất rõ ràng. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, những người tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, doanh nghiệp… đều với mục đích là giải phóng đất nước, do đó việc phân biệt giữa làm việc trong cơ quan hành chính với các tổ chức chính trị không còn tách biệt, chính vì thế khái niệm công chức ít được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước”, không phân biệt công chức, viên chức với công nhân. Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cho phù hợp với thông lệ quốc tế, thuật ngữ và khái niệm công chức được quy định trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25-5-1991 của Hội đồng Bộ trưởng như sau: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức.
Khái niệm này đã nêu khá đầy đủ các dấu hiệu cơ bản về công chức trong nền hành chính hiện đại, phù hợp với quan niệm chung của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên tại Điều 2 của Nghị định này, khi quy định những người là công chức và không phải công chức thì lại có một số đối 25 Luan van tượng như công an, những người làm nghiên cứu khoa học, giáo viên, nhà báo, nghệ sỹ… chưa được xếp loại nào. Năm 1998, khi nền kinh tế đã chuyển mạnh sang hướng cơ chế thị trường, sự tách biệt giữa các loại hỉnh sở hữu đã rõ ràng thì cần thiết phải có một sự phân biệt giữa hai khu vực là kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Điều đó cũng kéo theo sự thay đổi một loạt các nhiệm vụ của nhà nước, việc can thiệp vào quá trình sản xuất, kinh doanh cũng theo hướng khác đi, ít trực tiếp thực hiện mà tăng cường quản lý nhà nước, điều chỉnh bằng các cơ chế, chính sách và pháp luật.
Chính vì vậy, việc sửa đổi từ nghị định thành Pháp lệnh cán bộ công chức là yêu cầu cần thiết để quy định sâu hơn, rõ hơn các chức năng của công chức. Tại Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 quy định:Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hướng lương từ ngân sách nhà nước. Theo đó, khái niệm công chức ỏ đây có ba dấu hiện chính là: - Là công dân Việt Nam.