Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƢỚC 1. Những khái niệm cơ bản liên quan 1. Công chức và công chức cơ quan chuyên môn cấp huyện * Công chức Thuật ngữ “công chức” được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng để chỉ những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, ở góc độ lịch sử và địa lý, khái niệm công chức là khái niệm mở. Nội dung của thuật ngữ này phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Do đó không có một định nghĩa chung thống nhất cho thuật ngữ này. Ở những quốc gia tồn tại nhiều đàng phái chính trị, có đảng cầm quyền và đảng đối lập thì công chức được hiểu là một đối tượng lao động xã hội gồm những người giữ các công vụ thường xuvên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc hành chính, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Còn ở những quốc gia chỉ có một đảng duy nhất, thì công chức được quan niệm khác hẳn, họ không chỉ gồm các đối tượng nói trên mà còn cả những đối tượng có dấu hiệu tương tự nhưng người làm việc tại các tổ chức của đảng, tổ chức chính trị, xã hội. Cán bộ, công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ nền hành chính nào.
Đội ngũ này có vai trò thực thi pháp luật để quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm hiệu lực của đường lối thể chế của giai cấp cầm quyền. Tuy nhiên mục đích thực thi pháp luật ở mỗi nền hành chính khác nhau tùy thuộc vào chế độ chính trị. Các nhà nước với chế độ chính trị, xã hội kinh tế và văn hoá khác nhau quan niệm về công chức là không hoàn toàn giống nhau. Quan niệm về công chức ở việt Nam Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định về công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, 10 Luan van chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật1.
Như vậy ở Việt Nam số lượng những người được xác định là công chức rất rộng, bao gồm những người làm việc ở trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; trong cơ quan nhà nước; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp. Không chỉ đối tượng những người được xác định là công chức ở Việt Nam rộng mà quy trình truyển dụng công chức thuộc các đối tượng này cũng khác nhau. Quy trình tuyển dụng công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân có quy trình, quy định tuyển dụng riêng; công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước có quy định tuyển dụng riêng và công chức cấp xã lại được tuyển dụng theo quy trình khác. Còn đối với công chức là lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp công lập thì quy trình bổ nhiệm giữ chức vụ người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập chính là quy trình tuyển dụng vào công chức.
Tuy nhiên trong phạm vi của Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu việc tuyển dụng công chức cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, cụ thể là các cơ quan chuyên môn 1 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008. 11 Luan van thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, các đối tượng công chức còn lại không nghiên cứu trong luận văn này. * Các cơ quan chuyên môn cấp huyện Địa vị pháp lý của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện). Theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/05/2014 của chính phủ, các cơ quan chuyên môn cấp huyện bao gồm 10 phòng được tổ chức thống nhất trên cả nước.
Cụ thể như sau: + Phòng Nội vụ + Phòng Tư pháp + Phòng Tài chính - Kế hoạch + Phòng Tài nguyên và Môi trường + Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội + Phòng Văn hóa và Thông tin + Phòng Giáo dục và Đào tạo + Phòng Y tế + Thanh tra huyện + Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân Bên cạnh đó, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP còn quy định các cơ quan chuyên môn được tổ chức để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm: - Ở các quận và các thị xã, thành phố thuộc tỉnh + Phòng Kinh tế + Phòng Quản lý đô thị - Ở các huyện + Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn + Phòng Kinh tế và Hạ tầng 12 Luan van - Phòng Dân tộc: Theo quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có Vị trí và chức năng như sau: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. * Công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện: Là những người làm trong các phòng chuyên môn theo Nghị định số 37/2014/NĐ- CP như đã nêu ở trên, chịu trách nhiệm tham mưu thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước, hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên địa bàn huyện, hướng dẫn và kiểm tra đôn đốc cấp xã thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Bộ máy quản lý hành chính nhà nước cấp huyện có vị thế hết sức quan trọng vì đó là cấp trung gian giữa cấp tỉnh và cấp xã.
Cấp huyện có chức năng bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật Nhà nước; quyết định của chính quyền Nhà nước cấp trên; quyết định và đảm bảo thực hiện các chủ trương, giải pháp để phát huy khả năng và tiềm năng của địa phương về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng …nhằm không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với Nhà nước. Tuyển dụng công chức - Tuyển dụng Tuyển dụng lao động là một quá trình thu hút nhân lực có khả năng đáp ứng công việc và đưa vào sử dụng, bao gồm các khâu: tuyển mộ, tuyển chọn, bố 13 Luan van trí sử dụng và đánh giá. Theo khái niệm này, nội hàm tuyển dụng khá rộng vì nó bao gồm cả công tác bố trí và đánh giá nhân lực. Ở góc độ hẹp hơn, có thể hiểu tuyển dụng nhân sự là quá trình nhằm thu hút và tìm kiếm người lao động từ nhiều nguồn khác cho vị trí công việc trống nhằm lựa chọn ra người tốt nhất cho vị trí công việc trống đó, là một qúa trình thu hút, nghiên cứu, lựa chọn và quyết định tiếp nhận một cá nhân vào một vị trí của tổ chức.
Mục đích của một cuộc tuyển dụng là tìm chọn một hoặc một số người phù hợp nhất với các tiêu chuẩn và yêu cầu của các vị trí cần tuyển. - Tuyển dụng công chức Trong lĩnh vực hành chính nhà nước thì tuyển dụng lại được hiểu theo một cách khác: Tuyển dụng là một hoạt động nhằm chọn được những người có đủ khả năng và điều kiện thực thi công việc trong các cơ quan nhà nước. Tùy theo tính chất, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cơ quan mà tiêu chuẩn điều kiện, hình thức tuyển dụng có khác nhau. Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước định nghĩa: “tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan nhà nước thông qua thi hoặc xét tuyển.” Cùng với sự ra đời của Luật Cán bộ công chức năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thay thế Nghị định số 117/2003/NĐ-CP, tuy nhiên hiện nay việc tuyển dụng công chức vẫn được thực hiện chủ yếu thông qua hai hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển.
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, tuyển dụng công chức nhất là tuyển chọn thông qua thi tuyển, xét tuyển, bầu chọn, bổ nhiệm… để chọn lựa một số ít người trong số nhiều người tham gia công vụ Nhà nước. Từ cách hiểu trên có thể nói tuyển dụng là một dạng hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước nhằm chọn được những cán bộ, công chức có đủ khả năng và điều kiện thực thi công việc trong các cơ quan Nhà nước.