phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung luận văn gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học về tuyển chọn công chức lãnh đạo quản lý các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thực trạng công tác tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo quản lý các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác tuyển chọn công chức lãnh đạo quản lý các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
10 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TUYỂN CHỌN CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm 1.Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện Để hiểu đƣợc khái niệm cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện cần làm rõ một số khái niệm sau: Theo Đại từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là “cơ quan chuyên trách một ngành cụ thể của nhà nước” [78, Tr. Theo từ điển tiếng Việt, cơ quan chuyên môn là “cơ quan chuyên trách một ngành công tác của nhà nước” [76]. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp thì cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là “Cơ quan có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cùng cấp và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Cơ quan chuyên môn thuôc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp trên… Tổ chức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân do Chính phủ quy định. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện…”[75, tr. 11 Theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, ngày 05/5/2014 của Chính phủ, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương [23] Tại Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng số: 77/2015/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2015 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thì: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên.
Được tổ chức bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn. Từ cơ sở lý luận trên, ta có khái niệm: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (gồm các phòng và cơ quan tương đương) là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của Ủy ban nhân dân và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống 12 nhất quản lý ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. Các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành cấp trên. Công chức và công chức lãnh đạo quản lý 1.
Công chức Khái niệm “công chức” gắn liền với sự ra đời công chức ở các nƣớc phƣơng Tây. Từ nửa cuối thế kỷ XIX tại nhiều nƣớc đã thực hiện chế độ công chức. “Công chức” đƣợc hiểu là những công dân đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ công vụ thƣờng xuyên trong một cơ sở của Nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc, đã đƣợc xếp vào một ngạch và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Tại Khoản 2, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
[56] Tại Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020, quy định: “Công 13 chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Theo định nghĩa trên thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh; những ngƣời đƣợc tuyển dụng vào làm việc tại các cơ, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị- xã hội. thông qua quy chế chế tuyển dụng (thi tuyển, xác tuyển); bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh thì đƣợc xác định là công chức. Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) đƣợc cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc giao Từ những phân tích trên, có thể hiểu công chức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện là một bộ phận của công chức hành chính Nhà nƣớc, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan chuyên môn cấp huyện, thực hiện nhiệm vụ và có quyền hạn nhất định để giúp ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ của mình.
Lãnh đạo quản lý Trên thực tế, các nhà nghiên cứu chƣa thống nhất đƣợc về một định nghĩa rõ ràng, rành mạch cho hai khái niệm lãnh đạo và quản lý. Ranh giới để nhận biết ai là lãnh đạo, ai là quản lý của một tổ chức nói chung là khó rạch ròi. Trong nhiều trƣờng hợp, chức năng, nhiệm vụ của ngƣời lãnh đạo, quản 14 lý trùng lặp nhau, thâm nhập vào nhau. Sự phận loại hai khái niệm này chỉ mang tính tƣơng đối.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Lãnh đạo là dẫn dắt tổ chức phong trào theo đƣờng lối cụ thể, là đề ra chủ trƣơng và tổ chức động viên thực hiện; còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đã đề ra [78,tr. Với quan niệm nhƣ vậy, có thể hiểu lãnh đạo quyết định về đƣờng lối, sách lƣợc gắn với những vấn đề mang tính tổng quát, còn quản lý là tổ chức thực hiện, xử lý, giải quyết những vấn đề thực tế đặt ra. Lãnh đạo là quá trình tạo ảnh hƣởng và tác động tới con ngƣời và tổ chức; là đƣa ra những chủ trƣơng, phƣơng hƣớng phát triển tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chính trị- kinh tế- xã hội đặt ra trong từng giai đoạn, phù hợp với yêu cầu và điều kiện trong từng giai đoạn phát triển của xã hội. Quản lý là một quá trình hiện thực hóa những đƣờng lối, chủ trƣơng chiến lƣợc thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý và phù hợp với yêu cầu, điều kiện của cơ quan, địa phƣơng cụ thể.
Về phƣơng thức tác động, lãnh đạo sử dụng chủ yếu phƣơng pháp thuyết phục, động viên, gây ảnh hƣởng, còn quản lý dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế. Về hiệu lực, lãnh đạo giúp cho các thành viên trong tổ chức quần chúng nhân dân tự tổ chức và làm cho tác động, ảnh hƣởng của lãnh đạo lan tỏa trong tổ chức, ra toàn xã hội, còn quản lý thƣờng thông qua hoạt động của chính quyền hoặc những tổ chức, cá nhân đƣợc nhà nƣớc trao quyền tác động trực tiếp tới các đối tƣợng chịu sự quản lý, hiệu lực là trực tiếp. Về nội dung chức năng, lãnh đạo gồm: Xác định phƣơng hƣớng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chủ trƣơng chiến lƣợc, điều hòa phối hợp các mối quan hệ và động viên thuyết phục thực hiện.