chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến tương tác hợp tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập, chương 2: Cơ sở lý luận về tương tác hợp tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ, chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu, chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về tương tác hợp tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh, phần kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình công bố, tài liệu tham khảo và phần phụ lục. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TƢƠNG TÁC HỢP TÁC GIỮA SINH VIÊN VỚI SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP Tương tác là sự tác động qua lại, tác động lên nhau [8]. Vì vậy, nghiên cứu tương tác là phải đặt nó vào một nhóm, một tình huống, một mối quan hệ nhất định. Nhận định này cho phép phân loại các nhóm nhỏ thành 2 loại: Nhóm hợp tác và nhóm cạnh tranh.
Nhóm hợp tác được tạo nên bởi sự tương tác hợp tác giữa các thành viên trong nhóm và nhóm cạnh tranh được tạo nên bởi sự tương tác cạnh tranh giữa các thành viên. Vận dụng điều này vào nhóm học tập của sinh viên cho thấy, nhóm học tập hợp tác của sinh viên là do tương tác hợp tác giữa các thành viên trong nhóm tạo nên. Vì vậy, trong tổng quan này, chúng tôi sẽ xem xét tương tác hợp tác trong học tập trong hình thức học tập hợp tác theo nhóm của sinh viên. Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Tương tác hợp tác trong học tập được nghiên cứu lần đầu tiên bởi Maller (1929) và May & Doobs (1937) [dẫn theo 80].
Cho đến khi lý thuyết về học tập hợp tác và cạnh tranh của Deutsch (1949a, 1949b) được hình thành và được minh chứng bằng các công trình nghiên cứu thực tế của nhóm nghiên cứu Johnson & Johnson (từ năm 1970) thì các công trình nghiên cứu về tương tác hợp tác trong học tập mới bắt đầu nở rộ. Có thể phân chia các hướng nghiên cứu chính sau đây: 1. Hướng nghiên cứu ảnh hưởng của tương tác hợp tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập đến kết quả học tập của sinh viên Kết quả học tập của sinh viên ở trường đại học không đơn giản chỉ là kiến thức, điểm số mà còn là kỹ năng nghề nghiệp, đời sống tinh thần, thái độ đối với cuộc sống, các mối quan hệ cá nhân…. Vì vậy, chúng tôi chia kết quả học tập của sinh viên thành 2 phần: Thành tích học tập và đời sống tâm lý xã hội của sinh viên.
- Sự ảnh hưởng của tương tác hợp tác đến thành tích học tập của sinh viên 8 Thành tích học tập là sự quan tâm hàng đầu của nhà trường và cũng là sự quan tâm lớn lao của các nhà nghiên cứu về tương tác hợp tác trong học tập. Đầu tiên, phải kể đến những công trình đồ sộ của nhóm nghiên cứu Johnson và Johnson về tương tác hợp tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập. Trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 2002, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp và phân tích 117 công trình khoa học về phương pháp học tập cùng nhau (Learning Together) và phương pháp học tập cạnh tranh, học tập một mình. Học tập cùng nhau là hình thức sinh viên tập hợp lại thành nhóm nhỏ (từ 3 đến 5 người) và cùng thảo luận, bàn bạc về một khái niệm hay một nhiệm vụ học tập với nhau.
Các nhóm nhỏ này được tổ chức theo hình thức tương tác hợp tác. Kết quả của công trình phân tích này là: Có 62% các nghiên cứu thừa nhận học tập cùng nhau có ảnh hưởng tích cực lên thành tích học tập của sinh viên và sự ảnh hưởng này là cao hơn so với ảnh hưởng của học tập cạnh tranh và học tập cá nhân [74]. Bên cạnh đó, thành tích học tập của sinh viên còn bị tác động tích cực bởi tranh cãi mang tính xây dựng [82], giải quyết xung đột và hòa giải đồng đẳng [80] – là những biểu hiện cụ thể của tương tác hợp tác trong quá trình sinh viên học tập cùng nhau. Đến năm 2014, nhóm tác giả Johnson và Johnson (2014) nghiên cứu sâu, rộng hơn về học tập hợp tác ở trường đại học.
Nhóm đã thống kê và phân tích hơn 305 nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau nhằm tiến hành so sánh ảnh hưởng của hình thức học tập hợp tác, học tập cạnh tranh và học tập cá nhân lên thành tích học tập của sinh viên. Các nghiên cứu này được thực hiện trong khoảng thời gian từ 1960 đến 2009. Các nghiên cứu được tiến hành tại nhiều lĩnh vực khoa học như: Khoa học xã hội, khoa học máy tính, tiếng Anh, toán, tâm lý, sức khỏe, giáo dục thể chất, với nhiều công việc khác nhau (bằng lời nói, toán học, thủ tục). Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Bắc Mỹ, một số nghiên cứu đã được tiến hành ở châu Âu, Trung Đông và châu Á.
Các phương pháp nghiên cứu khác nhau đã được sử dụng như phân tích kết quả định tính, thống kê toán học, phép so sánh. Kết quả như sau: Học tập hợp tác đã thúc đẩy thành tích cá nhân cao hơn so với thành tích học tập cạnh tranh là 49%, cao hơn so với thành tích học tập cá nhân là 53%. Trong đó, thành tích được nâng cao bao gồm: Kiến thức được tích lũy, số lượng kiến thức được ghi nhớ 9 tăng lên và chính xác hơn, giải quyết vấn đề sâu sắc và sáng tạo hơn, lý luận sắc bén hơn [83]. Điều này cho thấy học tập hợp tác không chỉ làm tăng điểm số của sinh viên mà còn làm tăng cả chất lượng của kiến thức mà sinh viên tiếp thu được.
Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng tích cực lên kết quả học tập của sinh viên không hề có sự phân biệt thời gian, không gian, dân tộc và lĩnh vực sinh viên đang theo học. Ngoài các công trình nghiên cứu trên, một số tác giả phát hiện những ảnh hưởng tích cực của tương tác hợp tác lên nhiều mặt của kết quả học tập. Cụ thể là sự hiểu biết được thay cho nhận biết hay phạm vi hiểu biết trở nên rộng hơn [84] [88]; điểm số được gia tăng [70]; tư duy cấp cao phát triển [85] và hình thành, phát triển tư duy phê phán [102]. Astin (1993) phát hiện ra rằng tương tác hợp tác giữa sinh viên với sinh viên là một trong 2 tương tác có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập ở đại học.
Astin cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau tích cực giữa các sinh viên và tinh thần trách nhiệm đã thúc đẩy sinh viên nỗ lực hoàn thành bài tập của mình và hỗ trợ sinh viên khác hoàn thành bài tập [57]. Điều này đã giúp sinh viên phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phê phán và nhận thức về văn hóa. (2018) đã nghiên cứu về tương tác ngôn ngữ trong học tập tiếng Anh và cho rằng tương tác hợp tác với bạn bè giúp cho sinh viên giảm căng thẳng, giảm áp lực tăng tự tin luyện tập cùng nhau. Nhờ vào điều này, kết quả nói Tiếng Anh của sinh viên tăng lên rõ rệt [91].
Một số tác giả không chỉ công bố kết quả nghiên cứu mà còn đưa ra lời giải thích cho sự ảnh hưởng tích cực của tương tác hợp tác lên kết quả học tập. Nhóm tác giả Buchs, C., & Mugny, G (2004) nghiên cứu về tương tác hợp tác giữa sinh viên với sinh viên trong 2 bối cảnh: Sinh viên có thông tin giống nhau và sinh viên có thông tin khác nhau. Tác giả cho rằng, sinh viên phải tranh luận, so sánh thông tin với nhau (trong tình huống thông tin giống nhau), trình bày ý kiến, trao đổi, lắng nghe, đặt câu hỏi, giải thích, tóm tắt (trong tình huống thông tin không 10 giống nhau) để hiểu biết đầy đủ thông tin. Như vậy, trong cả 2 tình huống, sự tương tác tích cực với bạn bè đã giúp sinh viên nâng cao kết quả học tập [62].
Có cùng quan điểm trên, Amy Soller (2001) đã cho rằng kết quả học tập của sinh viên được cải thiện và nâng cao là nhờ sinh viên học tập theo nhóm. Trong quá trình học tập cùng nhau, sinh viên đã khuyến khích nhau cùng đặt câu hỏi cho nhau. Mỗi cá nhân tích cực giải thích và biện minh ý kiến của mình, nói rõ lý luận của mình cho thành viên khác nghe và cùng nhau xây dựng kiến thức mới. Những việc làm cụ thể đó đã thúc đẩy và cải thiện việc học của sinh viên [101].
Như vậy, sự tiến bộ trong kết quả học tập của sinh viên không phải do sinh viên khác mang lại mà thực chất là do bản thân sinh viên biết cách tương tác hợp tác với bạn. - Sự ảnh hưởng của tương tác hợp tác lên đời sống tâm lý xã hội của sinh viên Bên cạnh những thành quả học tập, tương tác hợp tác trong học tập giữa sinh viên với sinh viên còn mang lại cho người học những kết quả tâm lý xã hội thú vị. Nhóm nghiên cứu Johnson & Johnson cho rằng những nổ lực hợp tác thúc đẩy sự thích thú của sinh viên đối với trường lớp, đối với việc học. Những nội dung được các ông nghiên cứu bao gồm: Sự thu hút giữa các sinh viên với nhau, tinh thần đồng đội, sự cố kết và tin tưởng, nhận thức về hỗ trợ xã hội, lòng tự trọng [83].
Kết quả phân tích 117 công trình nghiên cứu về học tập hợp tác, học tập cạnh tranh, học tập cá nhân vào năm 2002 cho thấy có 38% công trình thừa nhận học tập cùng nhau có ảnh hưởng đến lòng tự trọng, chấp nhận xã hội, hỗ trợ xã hội và thu hút giữa các cá nhân khác nhau. Hơn 10 năm sau, tiếp tục phân tích trên 305 công trình tương tự, kết quả về mặt tâm lý xã hội càng đa dạng hơn. Đó là mối quan hệ cá nhân của sinh viên trở nên tích cực hơn, đời sống học đường chất lượng hơn, sinh viên có nhiều bạn bè hơn và đặc biệt, việc học tập trở nên hứng thú hơn. Bên cạnh những kết quả đó, học tập hợp tác còn ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của sinh viên như thúc đẩy lòng tự trọng cao, tạo sự tự tin để sinh viên nỗ lực xây dựng và đạt đến mục tiêu nghề nghiệp [83].
Có thể thấy học tập hợp tác mang lại những điều “kỳ diệu” (từ dùng của nhóm nghiên cứu Johnson & Johnson) cho người học mà những ai học tập theo kiểu cạnh tranh hoặc tự học một mình khó mà có được.