Mở đầu Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận về tổ chức tƣ vấn hƣớng nghiệp cho TNSCN Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức TVHN cho TNSCN ma tuý ở TP. Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và cải tiến hoạt động TVHN cho TNSCN Kết luận và kiến nghị. z 17 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TƢ VẤN HƢỚNG NGHIỆP CHO THANH NIÊN SAU CAI NGHIỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề Tổ chức TVHN cho TNSCN là một vấn đề mới trong nghiên cứu và triển khai thực hiện có hệ thống.
Ở Tây phƣơng, đặc biệt ở Mỹ, có hẳn một ngành học TVHN phục hồi cho các đối tƣợng xã hội đặc biệt. Nhƣng chƣa có những công trình nghiên cứu cụ thể về cách thức triển khai hƣớng tổ chức hệ thống quản lý giáo dục ở cộng đồng, huy động các nguồn lực trong nhân dân. Tƣ vấn hƣớng nghiệp ở Việt Nam chƣa là môn khoa học phổ biến, thƣờng các ngƣời tƣ vấn cho lời khuyên ngay sau khi trắc nghiệm đo lƣờng các chỉ số tâm sinh lý, dù công cụ chỉ là những trắc nghiệm mô phỏng nƣớc ngoài, chƣa có tính chính xác đối với ngƣời Việt Nam. Ngay từ “tƣ vấn”, cũng đã có nhiều cách hiểu khác nhau, do xuất phát từ nhiều lãnh vực và học thuyết tƣ vấn khác nhau.
Tổ chức TVHN một cách khoa học và nặng về giáo dục hƣớng nghiệp, dƣới nhãn quan quản lý giáo dục, giáo dục học, là một vấn đề tổ chức giáo dục lại đối tƣợng đặc biệt TNSCN, bao hàm tính nhân văn, chịu ảnh hƣởng của quá trình hoạt động công tác xã hội đối với những thanh niên đã một lần mất niềm tin trong cuộc sống. Đề tài luận án có tính liên ngành, liên quan đến nhiều lĩnh vực lý luận và thực tiễn. Để nghiên cứu đề tài nầy, tác giả đã tổng quan tình hình nghiên cứu các lĩnh vực liên quan theo 3 hƣớng : - Nghiên cứu về quản lý giáo dục ngƣời nghiện và tái nghiện ma tuý. - Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp.
- Tƣ vấn hƣớng nghiệp cho thanh niên sau cai nghiện (đối tƣợng đặc biệt). Nghiên cứu về quản lý giáo dục người nghiện và tái nghiện ma tuý 1. Về quản lý giáo dục: Đã có nhiều công trình nghiên cứu lý luận chung cũng nhƣ nhiều nghiên cứu đi vào các lĩnh vực quản lý giáo dục cụ thể. Hà Thế Ngữ (1984) đã có một số bài viết về “khái niệm quản lý giáo dục,” quản lý nhà trƣờng nói chung và đặc biệt bàn về vị trí vai trò chức năng của quản lý nhà trƣờng [53].
Nguyễn Ngọc Quang (1989) đã trình bầy những vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng một cách khá cơ bản, nhất là đƣa ra “Những khái niệm cơ bản của quản lý giáo dục” [59]. Đặng Bá Lãm, Nguyễn Cảnh Hồ, Vũ Ngọc Hải, (2005) đã trình bầy vấn đề: Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và thực tiễn [46]… Gần đây một số nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục đã quan tâm cập nhật những lý thuyết, phƣơng pháp quản lý hiện đại vận dụng vào quản lý giáo dục, nhƣ: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn thị Mỹ Lộc (2005) Những xu thế quản lý hiện đại và việc vận dụng vào quản lý giáo dục[19]; Trần Kiểm “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục [42]. Mặt khác, đã có một số công trình vận dụng lý luận chung về quản lý giáo dục vào nghiên cứu những lĩnh vực quản lý giáo dục cụ thể , nhƣ: Hoàng Thị Bích Hƣờng (2002) đã đi sâu nghiên cứu các biện pháp tổ chức giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ em đƣờng phố tại Hà Nội, giúp các em biết tự bảo vệ và hoà nhập xã hội. [37] Đặng Huỳnh Mai (2007), đã vận dụng lý luận quản lý vào phân tích, tổng kết thực tiễn quản lý giáo dục, trình bầy khá hệ thống các tình huống quản lý giáo dục ở cơ sở trong tác phẩm “Những tình huống trong thực tiễn quản lý giáo dục” [50] z 19 Nguyễn Thanh Thiện (2007), trong Luận án Tiến sỹ Giáo dục học với đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ đường phố trong điều kiện hiện nay”, đã đề cập khá cụ thể cách tổ chức, cách phối hợp các lực lƣợng xã hội, các nội dung, phƣơng pháp để nâng cao chất lƣợng chăm sóc, giáo dục trẻ đƣờng phố.
Tóm lại, phần trên đã tổng quan một số công trình nghiên cứu quản lý giáo dục liên quan đến đề tài của luận án. Về tổ chức quản lý giáo dục người nghiện ma tuý, TNSCN Riêng về vấn đề chữa trị và tổ chức giáo dục phục hồi ngƣời nghiện ma tuý, mỗi quốc gia có một phƣơng thức khác nhau. Theo Báo cáo ma tuy thế giới 2006 và Báo cáo hằng năm 2007 (2006 Word Drug Report và Annual report 2007) của Cơ quan Phòng chống tội phạm và ma túy Liên Hiệp Quốc: Ở Mỹ, có 2 hình thức cai nghiện nội trú và ngoại trú, và chứng minh cai nghiện ngoại trú có chi phí tổng thể rẻ hơn nhiều lần so với nội trú. Các trang Web về các giải pháp tổ chức quản lý giáo dục ngƣời sau cai nghiện cho thấy: Ở Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia tiến hành cùng lúc 5 giải pháp chữa trị, gồm: (1) Bắt buộc chữa trị 3 năm tập trung do Cục Cải tạo phụ trách; (2) Chữa trị tại địa phƣơng hoặc nhà tạm (haftway house) do các tổ chức phi chính phủ, hội đoàn phụ trách; (3) Chữa trị bằng methadone của ngành Y tế; (4) Chữa trị lâu dài dành cho ngƣời nghiện bị ở các trung tâm tƣ vấn dành cho ngƣời nghiện bị tâm thần do ngành Phúc lợi xã hội phụ cấp; và (5) Hệ thống các trạm xá chăm sóc ngƣời nghiện ma túy của các bệnh viện.
z 20 Tuy vậy, trong quản lý xã hội nặng về thực thi luật pháp, mô phỏng các giải pháp ảnh hƣởng văn hóa phƣơng Tây, chƣa chú trọng xây dựng nội dung giáo dục và các giải pháp quản lý giáo dục theo hƣớng vận dụng các nguồn lực tinh thần từ gia đình và các phong trào vận động quần chúng trong cộng đồng, trong các lực lƣợng hội đoàn tình nguyện tham gia lâu dài hỗ trợ các cá nhân TNSCN khi trở về tái hội nhập cộng đồng. Ở Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu chung nhƣ: - Đề tài nghiên cứu “Tệ nạn xã hội - Căn nguyên, Biểu hiện và Phương thức khắc phục” của Viện thông tin KHXH (1996) [82]. Đề tài có tính tổng quan tình hình các tệ nạn xã hội xảy ra ở nhiều nƣớc trên thế giới; đƣa ra những phân tích của các học giả về những căn nguyên văn hoá, xã hội, sự biến động kinh tế, cơ chế quản lý…; đồng thời cũng khuyến nghị những giải pháp mang tính vĩ mô. - Đề tài“Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đấu tranh phòng, chống các tệ nạn ở nước ta” của Võ khánh Vinh [81] giúp cho mọi ngƣời thấy rõ sự nguy hại, nguyên nhân sâu xa của các tệ nạn xã hội, trong đó nhấn mạnh đến nạn nghiên ma tuý cũng nhƣ tầm quan trọng của cuộc đấu tranh với các tệ nạn này, nhất là tệ nạn ma túy mà đất nƣớc chúng ta phải đối đầu, trong thời kỳ hội nhập thế giới, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
- Đề tài : «Đặc điểm nhân cách gái mại dâm, nguyên nhân tâm lý – xã hội và một số kiến nghị về giải pháp» của Lê Thị Hà (2002) là công trình nghiên cứu công phu cả về lý luận lẫn thực tiễn. Tác giả đã phân tích rất sâu sắc những nguyên nhân tâm lý, cũng nhƣ những hoàn cảnh xã hội dẫn các cô gái đến con đƣờng lầm lỡ [31] - Đề tài CB 2001 “Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy và người mại dâm sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn văn Minh (2002) làm chủ nhiệm [51]; Đề tài CB 96-02-06, Cục phòng chống tệ nạn xã z 21 hội “Thử nghiệm cách hạn chế tái nghiện cho các đối tượng sau khi được cai nghiện” do Trần Xuân Sắc Chủ nhiệm (2006) [60], là những cố gắng tìm kiếm giải pháp quản lý ngƣời sau cai nghiện. Tuy nhiên các giải pháp nặng về tính vĩ mô; các giải pháp đa dạng, kết hợp nhiều mặt, những chƣa đề cập sâu vấn đề quản lý giáo dục TNSCN qua con đƣờng TVHN cho họ tại cộng đồng. Bên cạnh đó, có một số công trình bàn đến giáo dục lại, giáo dục công dân, vấn đề quản lý giáo dục ngƣời cai nghiện và sau cai nghiện nhƣ: “Quy trình chữa trị cho người nghiện ma túy của Trung tâm giáo dục dạy nghề Bình Triệu; Giá trị sống là một chủ đề giáo dục chủ yếu cho thanh niên cai nghiện trong các trung tâm cai nghiện, với giáo trình: “Chương trình giáo dục các giá trị sống”, (trang Web:www.org,email : vietnam@livingvalues.net ) Hiện nay Nhà nƣớc thực hiện 2 chế độ: Cai nghiện tập trung và cai nghiện tại cộng đồng với 2 hình thức, bắt buộc và tự nguyện.
Tuy vậy, vấn đề tổ chức các phƣơng thức nhằm quản lý ngƣời sau cai nghiện, hỗ trợ họ phòng chống tái nghiện, còn gặp nhiều khó khăn. Nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh, khi hằng vạn ngƣời tập trung sau cai nghiện trở về hòa nhập cộng đồng đang có nguy cơ tái nghiện. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu có trƣớc, ở nƣớc ngoài và trong nƣớc, cho thấy: (1) Ma túy là một đại nạn, có tính toàn cầu, có ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội đất nƣớc; (2) Đối với TNSCN, bên cạnh các biện pháp y tế chữa trị lâu dài, giải pháp tiếp tục tổ chức quản lý giáo dục nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, quan tâm đến nghề nghiệp, việc làm giúp họ tự tạo cuộc sống lành mạnh là rất cần thiết; (3) Ngƣời sau cai nghiện muốn phòng chống tái nghiện, có việc làm hòa nhập cộng đồng, cần phải có sự giúp sức của cộng đồng và các chính sách thực hiện các giải pháp thiết thực thuộc nhiều lãnh vực khác nhau. Nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp 1.
Những nghiên cứu về tư vấn Đã có nhiều công trình từ đầu thế kỷ XX: Carl Rogers có tác phẩm Tư vấn và Tâm lý trị liệu (Counseling and Psychotherapy) [88] đƣợc tái bản nhiều lần, mở ra một trƣờng phái tƣ vấn tâm lý biết lắng nghe, một cách trung thực và thấu cảm những cảm xúc của thân chủ. Cuốn Áp dụng lý thuyết phát triển nghề nghiệp trong tư vấn (Applying Career Development Theory to Counseling) của Richard S.