Phần mở đầu, hai chƣơng, 5 tiết thuộc nội dung chính, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. TƢ TƢỞNG VỀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC QUYỀN LỰC NHÀ NƢỚC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC PHƢƠNG TÂY CẬN – HIỆN ĐẠI 1. Quyền lực nhà nước và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước 1. Quyền lực và quyền lực nhà nƣớc Trƣớc hết, câu hỏi đặt ra và cần phải giải quyết là: Quyền lực là gì? Và tại sao xã hội lại phải cần đến quyền lực? Ngay từ thời cổ đại, các nhà tƣ tƣởng đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của quyền lực và bàn đến quyền lực nhƣ một trong những cơ sở chủ yếu nhất đến tổ chức đời sống xã hội.
Và cho đến nay, lý luận về quyền lực vẫn còn là vấn đề trung tâm của các nghiên cứu chính trị, pháp lý, xã hội nhằm tìm kiếm cách thức, tổ chức và thực thi quyền lực sao cho hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hiểu nhƣ thế nào là đúng về quyền lực, quyền lực nhà nƣớc và phƣơng thức tổ chức quyền lực nhà nƣớc lại là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Phạm trù quyền lực đƣợc một số tác giả hiểu nhƣ sau: Nhà xã hội học ngƣời Đức Weber (1864 – 1920) thì cho rằng, quyền lực là khả năng của một chủ thể xã hội, trong mối quan hệ xã hội cụ thể, biểu thị ý chí của mình nhằm thay đổi hành vi của ngƣời khác bất chấp những ngƣời can dự vào hành vi đó có ƣng thuận hay không. Ông đã giải thích luận điểm của mình nhƣ sau: Thứ nhất, quyền lực không phải là vật thể có thể sờ thấy đƣợc, nhìn thất đƣợc, mà đó là mối quan hệ tƣơng tác giữa chủ thể và các chủ thể khác.
Thứ hai, quyền lực không nhất định dẫn đến bạo lực, vì đó có thể chỉ là khả năng và đồng thời là sự chống đối của những chủ thể khác có thể đƣợc khắc phục không chỉ bằng bạo lực. Thứ ba, quyền lực là sự thể hiện ý chí của một chủ thể này đối với chủ thể khác ngoài ý muốn của chủ thể đó, do vậy quyền lực thƣờng gắn liền với xung đột nào cũng dẫn đến việc sử dụng quyền lực, nhƣng đằng sau mọi quyền lực đều có sự xung đột công khai hoặc tiềm ẩn [24,420]. 16 Vào thập niên 50 của thế kỷ XX, G. Lasswell (1902 – 1978), ông coi quyền lực là sự gây ảnh hƣởng.
Theo ông, quyền lực không chỉ đơn thuần là sự biểu hiện ý chí mà còn là sự gây ảnh hƣởng, là sự can dự vào các quyết định chính trị. Hay nhà triết học B. Russel cho rằng: Quyền lực là khả năng tạo ra những sản phẩm một cách chủ ý,. Hiện nay, các nhà học giả đã đƣa ra một cách khái quát nhất về định nghĩa quyền lực, theo đó có thể hiểu, quyền lực là mối quan hệ giữa các chủ thể hành động trong đời sống xã hội, trong đó chủ thể này chi phối hoặc buộc chủ thể khác phục tùng ý chí của mình nhằm thực hiện hóa lợi ích và ý chí của chủ thể quyền lực.
Quyền lực nhà nƣớc là gì? Từ trƣớc tới nay, quyền lực nhà nƣớc luôn đƣợc bàn đến nhƣ một vấn đề trung tâm của đời sống chính trị, xã hội. Ngay từ thời cổ đại, các nhà tƣ tƣởng đã cho rằng quyền lực nhà nƣớc là cái vốn có trong xã hội. Nguồn gốc của quyền lực nhà nƣớc đƣợc giải thích theo nhiều cách. Có thể là do hiện tƣợng siêu nhiên, là ý niệm tuyệt đối, là sản phẩm của Thƣợng đế, Chúa trời, hoặc do những hiện tƣợng trong xã hội,.
Theo Aristotle, quyền lực nhà nƣớc đƣợc quan niệm là sự hình thành một cách tự nhiên do con ngƣời sống thành xã hội tạo nên. Điều này không phải là sự lựa chọn mà là sự bắt buộc tự nhiên. Do vậy, trong xã hội tất yếu sẽ tồn tại một trật tự tự nhiên là có một số ngƣời ra lệnh và một số ngƣời khác phải phục tùng. Trong xã hội phong kiến, sự kết hợp giữa thần quyền và thế quyền đã ảnh hƣởng và tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và nhà nƣớc nói riêng.
Để củng cố sự thống trị của mình, giai cấp phong kiến biện hộ rằng quyền lực nhà nƣớc là sản phẩm của Thƣợng đế, do Thƣợng đế trao cho Vua hay Hoàng thƣợng để thay mặt Thƣợng đế cai quản trần thế. Đến thời kỳ cận đại (thời kỳ Khai sáng), cùng với những đòi hỏi về tự do, dân chủ, giai cấp tƣ sản đã chống lại sự chuyên quyền độc đoán của nhà nƣớc phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng trong việc tham gia nắm giữ quyền lực nhà 17 nƣớc. Mục đích của quyền lực nhà nƣớc là giữ gìn các quyền tự nhiên và không thể tƣớc bỏ của con ngƣời. Chính quyền nhà nƣớc phải đƣợc thành lập gồm những ngƣời lấy quyền lực chính đáng của mình từ sự nhất trí của nhân dân.
Điều quan trọng là nhân dân lại cho mình quyền có thể thay thế nhà nƣớc nếu nhƣ nó không thực hiện đúng khế ƣớc đã ký. Nếu bất cứ chính quyền nhà nƣớc nào vi phạm hay không bảo vệ đƣợc các quyền tự nhiên của con ngƣời hoặc trở thành nguyên nhân phá hủy mục đích đó, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc xóa bỏ và thiết lập nên chính quyền nhà nƣớc mới. Do đó, quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân. Kế thừa những quan niệm về quyền lực nhà nƣớc trong lịch sử, các nhà chính trị học ngày nay đã đƣa ra một định nghĩa chung về quyền lực nhà nƣớc nhƣ sau: Quyền lực nhà nƣớc là thực thể thống nhất, biểu hiện sự tập trung nhất của quyền lực công và quyền lực chính trị, thể hiện trong hành động chính trị của chủ thể cầm quyền (cá nhân, tầng lớp, giai cấp, lực lƣợng xã hội) nhằm thực hiện hóa lợi ích của mình trên cơ sở đảm bảo ở mức độ nhất định việc thực hiện lợi ích chung của xã hội.
Cách thức tổ chức quyền lực nhà nƣớc Trong lịch sử tƣ tƣởng chính trị, vấn đề về hình thức tổ chức quyền lực nhà nƣớc bao giờ cũng là vấn đề trọng tâm, cơ bản và quan trọng nhất. Ở mỗi hình thức nhà nƣớc khác nhau trong lịch sử sẽ mang những cách thức tổ chức quyền lực nhà nƣớc khác nhau: Ở nhà nƣớc quân chủ chuyên chế, toàn bộ quyền lực cao nhất của nhà nƣớc từ lập pháp, tƣ pháp, hành pháp đều tập trung trong tay nhà vua. Vua đƣợc mệnh danh là Thiên tử, là “con trời”, nên quyền lực của vua là vô hạn, là tối cao và bất khả xâm phạm. Mọi mệnh lệnh, chiếu chỉ, ý chỉ thậm chí khẩu dụ của nhà vua đều có giá trị bắt buộc phải tuân theo, đều là pháp luật nên pháp luật là thể hiện ý chí của nhà vua.
Các quan chức nhà nƣớc – những ngƣời tổ chức thực hiện mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua đều do vua cắt cử và bãi chức. Vua cũng là vị quan tòa tối cao phán xử các vụ án quan trọng nhất. Việc làm của các quan chức 18 và của thần dân có thể đƣợc vua xem xét đúng hay sai, tùy công mà vua thƣởng, vua ban lộc, tùy tội mà vua quyết định hình phạt. Khi nhà vua mất đi, quyền lực của nhà vua đƣợc truyền lại một cách nghiêm ngặt theo trật tự “cha truyền con nối”, để đảm bảo sự tồn tại dài lâu của vƣơng triều.
Nhƣ vậy, nếu xét theo các quyền trong hình thức nhà nƣớc, thì vua là ngƣời nắm giữ cả ba loại quyền lập pháp, hành pháp và cả tƣ pháp. Trong chế độ nhà nƣớc quân chủ hạn chế, quyền lực của nhà vua đã giảm hơn so với chế độ nhà nƣớc quân chủ chuyên chế. Trong mô hình nhà nƣớc này, quyền lực của vua bị hạn chế bởi các thế lực khác nhau (cơ quan đại diện của các đẳng cấp, Nghị viện hoặc Hiến pháp) và trong những lĩnh vực nhất định. Bƣớc sang chế độ chính thể quân chủ đại nghị, với đặc điểm là nhánh hành pháp của chính quyền phụ thuộc vào sự cho phép trực tiếp hoặc gián tiếp của quốc hội, thƣờng đƣợc biểu thị qua quyền bỏ phiếu tín nhiệm.
Quyền lực của vua bị hạn chế trong cả ba lĩnh vực, quyền lập pháp do Nghị viện thực hiện, quyền hành pháp đƣợc thực hiện bởi Chính phủ mà đứng đầu là Thủ tƣớng, còn quyền tƣ pháp đƣợc thực hiện bởi tòa án. Lúc này, chức vị của nhà vua chỉ còn mang tính chất truyền thống, nghi lễ và tƣợng trƣng, vua không trực tiếp giải quyết các công việc của nhà nƣớc mà chỉ đóng vai trò chính thức hóa các hoạt động của nhà nƣớc. Trong mô hình nhà nƣớc tƣ sản có chính thể cộng hòa, các quyền lập pháp, hành pháp, tƣ pháp của nhà nƣớc thƣờng đƣợc trao cho các cơ quan khác nhau là Nghị viện, Tổng thống, Chính phủ và Tòa án. Các cơ quan này có thể độc lập hoặc chịu trách nhiệm trƣớc nhau, có thể kiềm chế và kiểm soát lẫn nhau hoặc kiềm chế và đối trọng với nhau trong hoạt động theo nguyên tắc “quyền lực ngăn cản quyền lực”.
Ở các nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa trƣớc đây thì quyền lực nhà nƣớc đƣợc tập trung thống nhất vào cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra thông qua tuyển cử phổ thông đầu phiếu – đó là Quốc hội. Vì trực tiếp nhận từ nhân dân nên quyền lực của cơ quan này là tối cao. Song nó chỉ 19 thực hiện quyền lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nƣớc, giám sát tối cao hoạt động của nhà nƣớc. Để thực hiện quyền lực nhà nƣớc trong những lĩnh vực còn lại, nó lại tổ chức ra các cơ quan trung ƣơng khác nhƣ nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Từ những cách thức tổ chức quyền lực nhà nƣớc đƣợc nêu trên, có thể thấy, ở mỗi hình thức nhà nƣớc khác nhau sẽ cho ra đời những cách thức tổ chức quyền lực nhà nƣớc khác nhau. Tuy nhiên, có thể khái quát thành hai cơ chế tổ chức quyền lực nhà nƣớc cơ bản, đó là tập trung quyền lực và phân quyền. Cách thức tập trung quyền lực có nghĩa là quyền lực cao nhất của nhà nƣớc thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan, và cá nhân hoặc cơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà nƣớc hoặc cơ quan nhà nƣớc khác. Tập trung quyền lực là nguyên tắc tổ chức chính quyền nhà nƣớc có nội dung là sự tập trung mọi quyền lực vào tay các cơ quan trung ƣơng.