Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Cùng với sự phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định cách thức tổ chức quyền lực nhà nước là vấn đề trọng tâm, giữ vai trò “xương sống” trong việc định hình mô hình và phương hướng phát triển của thể chế chính trị. Dù mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1992, thực tiễn tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước tại Việt Nam thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: tổ chức bộ máy còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan còn chồng chéo; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao; sự phân công quyền lực còn bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp; năng lực chuyên môn của các nhánh quyền lực chưa đồng đều; đặc biệt là tình trạng tham nhũng diễn biến phức tạp. Do đó, việc nghiên cứu các cơ sở lý luận triết học và thực tiễn lịch sử nhằm hoàn thiện cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước trở thành nhiệm vụ cấp bách.
Lịch sử triết học phương Tây thời kỳ cận – hiện đại đã hình thành hai khuynh hướng lý thuyết nền tảng về tổ chức quyền lực nhà nước: khuynh hướng phân chia quyền lực (phân quyền) tiêu biểu qua quan điểm của John Locke và Charles Montesquieu; khuynh hướng tổ chức quyền lực theo nguyên tắc thống nhất có sự phân công, kiểm soát tiêu biểu qua quan điểm của Jean-Jacques Rousseau và Georg Wilhelm Friedrich Hegel. Khóa luận tốt nghiệp ngành Triết học của tác giả Lê Thị Trang tập trung làm sáng tỏ các giá trị cốt lõi của những tư tưởng này, từ đó rút ra ý nghĩa lý luận và thực tiễn phục vụ sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
Mục tiêu tổng quát của khóa luận là trên cơ sở hệ thống hóa tư tưởng về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước của các nhà triết học phương Tây cận – hiện đại, rút ra các bài học và ý nghĩa vận dụng đối với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam hiện nay. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu khái quát về quyền lực nhà nước và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước.
- Chỉ rõ bối cảnh, tiền đề cho sự ra đời tư tưởng về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trong triết học phương Tây cận – hiện đại.
- Phân tích nội dung tư tưởng về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trong triết học phương Tây cận – hiện đại qua các triết gia tiêu biểu.
- Rút ra ý nghĩa của tư tưởng về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước trong triết học phương Tây cận – hiện đại đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống tư tưởng về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước của các nhà triết học phương Tây cận – hiện đại và ý nghĩa của hệ tư tưởng đó đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về mặt tư tưởng tập trung vào các quan niệm triết học từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX qua 4 triết gia: John Locke, Charles Montesquieu, Jean-Jacques Rousseau và Georg Wilhelm Friedrich Hegel. Phạm vi nghiên cứu về mặt thực tiễn khảo sát quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam từ năm 1992 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2019).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng bộ máy nhà nước và Nhà nước pháp quyền XHCN. Đồng thời, công trình kế thừa các khái niệm nền tảng trong triết học chính trị phương Tây như: quyền lực công, chủ quyền nhân dân, khế ước xã hội, sự phân công lao động quyền lực và tính tối cao của pháp luật.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp đặc thù của lịch sử triết học và các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội chung:
- Phương pháp lịch sử - cụ thể và phương pháp logic - lịch sử: Được sử dụng xuyên suốt để phân tích sự phát triển của các học thuyết quyền lực trong mối liên hệ với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội cụ thể của châu Âu từ thời cổ đại qua cận - hiện đại.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để bóc tách từng bộ phận cấu thành trong quan điểm của các triết gia (lập pháp, hành pháp, tư pháp, liên hiệp), từ đó quy nạp thành hai mô hình tổ chức quyền lực cơ bản.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Dùng để làm rõ sự khác biệt giữa mô hình phân quyền đối trọng của Montesquieu và mô hình thống nhất hữu cơ của Rousseau, Hegel; so sánh sự phát triển từ John Locke đến Montesquieu.
- Phương pháp trừu tượng hóa và hệ thống - cấu trúc: Dùng để khái quát các giá trị phổ quát của tư tưởng phương Tây và đối chiếu với cấu trúc thể chế của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các tác phẩm kinh điển của các triết gia phương Tây: Khảo luận thứ hai về chính quyền (J. Locke), Tinh thần pháp luật (Montesquieu), Khế ước xã hội (J.-J. Rousseau), Triết học pháp quyền (G.W.F. Hegel); các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội IX, X, XI, XII); các bản Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1992, 2013); các công trình nghiên cứu, luận án, sách chuyên khảo và bài báo khoa học của các học giả trong nước như Đinh Ngọc Vượng, Nguyễn Thị Hồi, Đào Trí Úc, Nguyễn Thị Thúy Vân, Chu Thị Ngọc, Đặng Hồng Chiến.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I. Tư tưởng về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước của các nhà triết học phương Tây cận – hiện đại
Chương I trình bày cơ sở lý luận chung về quyền lực nhà nước, tiền đề kinh tế - xã hội, tiền đề tư tưởng và phân tích chi tiết nội dung học thuyết của bốn triết gia tiêu biểu.
Về mặt lý luận, tác giả điểm lại quan niệm quyền lực từ góc độ xã hội học và chính trị học (Max Weber coi quyền lực là khả năng áp đặt ý chí bất chấp sự phản kháng; Harold Lasswell coi quyền lực là sự gây ảnh hưởng và tham gia quyết định chính trị; Bertrand Russell định nghĩa quyền lực là khả năng tạo ra sản phẩm theo chủ ý). Quyền lực nhà nước được xác định là thực thể thống nhất, biểu hiện tập trung của quyền lực chính trị và quyền lực công, do giai cấp thống trị nắm giữ nhằm thực hiện hóa lợi ích của mình và điều hành xã hội. Về cách thức tổ chức, lịch sử thể chế ghi nhận hai cơ chế cơ bản: tập trung quyền lực (tập quyền cá nhân ở chế độ quân chủ chuyên chế hoặc tập quyền tập thể ở các cơ quan đại diện) và phân quyền (phân chia và kiềm chế giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp).
Về tiền đề lịch sử, sự ra đời của các học thuyết cận - hiện đại gắn liền với sự tan rã của chế độ phong kiến Tây Âu thế kỷ XV - XVIII, sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, các cuộc phát kiến địa lý, tiến bộ khoa học kỹ thuật và các cuộc cách mạng tư sản tại Hà Lan, Anh, Pháp. Về tiền đề tư tưởng, các triết gia kế thừa mầm mống phân quyền từ cải cách của Ephialtes ở thành bang Athens thế kỷ V TCN (chia quyền lực cho Hội nghị nhân dân, Hội đồng 500 và Tòa án 6000), tư tưởng của Aristotle về ba bộ phận quyền lực (Hội nghị nhân dân, quan chức hành chính, cơ quan tòa án) và sự thống trị của pháp luật lý tính, tư tưởng phối hợp thể chế của Polybe, cũng như sự phê phán chế độ quân chủ chuyên chế chuyên quyền của Thomas Hobbes.
Nội dung tư tưởng của các triết gia cận - hiện đại được chia thành hai nhánh lớn:
- Tư tưởng tổ chức quyền lực theo nguyên tắc phân quyền:
- John Locke: Trong Khảo luận thứ hai về chính quyền, Locke khẳng định quyền lập pháp là quyền lực tối cao trong nhà nước và phải thuộc về Nghị viện. Ông phân chia quyền lực thành ba nhánh: quyền lập pháp (làm luật), quyền hành pháp (thực thi luật, giao cho nhà vua) và quyền liên hiệp (quan hệ đối ngoại, hòa bình, chiến tranh). Locke cho rằng hành pháp và liên hiệp khó tách rời vì đều cần sử dụng vũ lực xã hội, nên cần quy về cơ quan hành pháp của nhà vua. Điểm tiến bộ của Locke là khẳng định quyền lực tối cao thực sự thuộc về nhân dân; quyền của cơ quan lập pháp chỉ là do nhân dân ủy thác và nhân dân có quyền thay đổi chính quyền nếu chính quyền bội ước.
- Charles Montesquieu: Phát triển toàn diện lý thuyết phân quyền thành học thuyết tam quyền phân lập trong tác phẩm Tinh thần pháp luật. Montesquieu chỉ ra rằng bất cứ ai nắm giữ quyền lực đều có xu hướng lạm quyền; để ngăn chặn lạm quyền, cần thiết lập trật tự "quyền lực ngăn cản quyền lực". Ông phân tách rành mạch ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cơ quan lập pháp được tổ chức theo mô hình lưỡng viện (viện dân chúng giữ quyền ban hành luật, viện quý tộc giữ quyền ngăn cản). Hành pháp được trao cho quốc vương để đảm bảo tính hành động nhanh chóng. Tư pháp phải độc lập hoàn toàn để bảo vệ quyền tự do của công dân, chỉ áp dụng luật một cách khách quan (ngoại trừ ba trường hợp quý tộc xét xử quý tộc, tòa án điều chỉnh các đạo luật quá khắc nghiệt và viện dân chúng tố cáo quan chức trước viện quý tộc).
- Tư tưởng tổ chức quyền lực theo nguyên tắc thống nhất, có sự phân công, kiểm soát:
- Jean-Jacques Rousseau: Trong tác phẩm Khế ước xã hội, Rousseau kịch liệt bác bỏ thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu vì cho rằng nó chia cắt chủ quyền tối cao của nhân dân. Quyền lực tối cao bắt nguồn từ ý chí chung của toàn dân nên có tính thống nhất, bất phân và bất khả chuyển nhượng. Cơ quan lập pháp do toàn thể nhân dân hợp thành giữ vị trí tối thượng. Hành pháp không phải là nhánh quyền lực độc lập ngang hàng mà chỉ là cơ quan thừa hành, cơ thể trung gian do cơ quan lập pháp lập ra để thi hành luật. Cơ quan tư pháp là trọng tài bảo vệ pháp luật.
- Georg Wilhelm Friedrich Hegel: Hegel phê phán thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu là biểu hiện của tư duy siêu hình và tâm thế "dân đen", biến các nhánh quyền lực thành các thế lực thù địch đối đầu làm tan rã nhà nước. Hegel quan niệm nhà nước là một chỉnh thể hữu cơ, hiện thân của "ý niệm đạo đức". Ông tổ chức nhà nước theo ba phẩm chất logic: quyền của quốc vương (tính cá biệt - nguyên thủ hợp hiến định đoạt tối hậu), quyền hành pháp (tính đặc thù - tổ chức thực thi, giải quyết mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân và cộng đồng, bao gồm cả tòa án và cảnh sát, do đội ngũ công chức chuyên nghiệp đảm nhiệm), và quyền lập pháp (tính phổ biến - lưỡng viện gồm thượng viện quý tộc và hạ viện đại diện các nghiệp đoàn xã hội dân sự).
Dưới đây là bảng tổng hợp và so sánh tư tưởng của bốn triết gia phương Tây cận – hiện đại:
| Tiêu chí |
John Locke (1632 – 1704) |
Charles Montesquieu (1689 – 1775) |
Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778) |
G.W.F. Hegel (1770 – 1831) |
| Tác phẩm tiêu biểu |
Khảo luận thứ hai về chính quyền |
Tinh thần pháp luật |
Khế ước xã hội |
Triết học pháp quyền |
| Nguyên tắc cốt lõi |
Phân quyền gắn với quyền lực tối cao của lập pháp |
Tam quyền phân lập, kiềm chế và đối trọng |
Thống nhất quyền lực tối cao thuộc về nhân dân |
Thống nhất hữu cơ của Nhà nước đạo đức |
| Phân chia các nhánh quyền lực |
3 quyền: Lập pháp, Hành pháp, Liên hiệp |
3 quyền: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp |
3 chức năng: Lập pháp (tối cao), Hành pháp, Tư pháp |
3 quyền: Lập pháp, Hành pháp (gồm tư pháp), Quốc vương |
| Thiết chế nắm giữ |
Lập pháp: Nghị viện; Hành pháp & Liên hiệp: Nhà vua |
Lập pháp: Lưỡng viện; Hành pháp: Nhà vua; Tư pháp: Tòa án |
Lập pháp: Toàn thể nhân dân; Hành pháp: Chính phủ thừa hành |
Lập pháp: Lưỡng viện; Hành pháp: Công chức, tòa án; Quốc vương: Hợp hiến |
| Cơ chế kiểm soát |
Nhân dân kiểm soát và bãi miễn quyền lập pháp ủy thác |
Quyền lực ngăn cản quyền lực, các nhánh kiểm soát lẫn nhau |
Nhân dân trực tiếp biểu quyết luật, bãi miễn chính phủ |
Thống nhất biện chứng nội tại, xã hội dân sự giám sát |
| Hạn chế lịch sử |
Chưa tách biệt tư pháp khỏi hành pháp |
Bảo vệ đặc quyền quý tộc; máy móc trong phân lập |
Khó khả thi ở quy mô lớn; phủ nhận tính độc lập thể chế |
Đưa tư pháp vào hành pháp; coi thường vai trò quần chúng |
Chương II. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và ý nghĩa tư tưởng về cách thức tổ chức quyền lực nhà nước của các nhà triết học phương Tây cận – hiện đại đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Chương II tập trung phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền XHCN, các đặc trưng hiến định và chỉ ra ý nghĩa tham chiếu từ các học thuyết phân quyền và thống nhất quyền lực.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ quát của nhân loại về nhà nước pháp quyền qua các kỳ Đại hội:
- Đại hội IX (năm 2001) chính thức khẳng định bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; xác lập nguyên tắc: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Đại hội X (năm 2006) và Đại hội XI (năm 2011) tiếp tục xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền là nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ quá độ, khẳng định phương thức lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước.
- Đại hội XII (năm 2016) cụ thể hóa bốn nội dung trọng tâm: Đảng lãnh đạo bằng pháp luật; hoàn thiện thể chế, chức năng, cơ chế vận hành; nâng cao chất lượng hoạt động bộ máy; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, chuyên nghiệp.
Nguyên tắc tổ chức quyền lực đã được hiến định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân... Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Đặc điểm bao trùm của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là tính nhân dân sâu sắc, bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh: "Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ", quyền lực do nhân dân ủy quyền thông qua bầu cử dân chủ và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Về mặt ý nghĩa đối với Việt Nam, khóa luận chỉ rõ:
- Ý nghĩa của tư tưởng phân quyền (Locke, Montesquieu): Cung cấp cơ sở khoa học để khắc phục tình trạng chồng chéo, nâng cao tính chuyên nghiệp của các cơ quan nhà nước; xác định rõ thẩm quyền của từng nhánh (Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án thực hiện quyền tư pháp); xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên trong bộ máy để ngăn ngừa lạm quyền, tha hóa quyền lực và chống tham nhũng; đảm bảo nguyên tắc độc lập xét xử của hệ thống tư pháp.
- Ý nghĩa của tư tưởng thống nhất quyền lực (Rousseau, Hegel): Củng cố nguyên tắc bất biến là quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam; ngăn ngừa tình trạng chia cắt, đối lập thể chế hoặc phân quyền cực đoan gây chia rẽ chính trị; coi trọng tính chỉnh thể hữu cơ và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan; nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có chuẩn mực đạo đức công vụ cao; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội từ phía nhân dân và xã hội dân sự.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả cụ thể sau:
- Hệ thống hóa có hệ thống các quan niệm về quyền lực nhà nước và cơ chế phân quyền, tập quyền từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại cho đến đỉnh cao trong triết học phương Tây cận – hiện đại.
- Phân tích sâu sắc sự tương đồng và đối lập giữa hai trường phái: trường phái phân quyền (John Locke, Charles Montesquieu) đặt trọng tâm vào kiểm soát quyền lực để bảo vệ quyền cá nhân; trường phái thống nhất quyền lực (J.-J. Rousseau, G.W.F. Hegel) đề cao tính toàn vẹn của chủ quyền nhân dân và tính chỉnh thể hữu cơ của nhà nước.
- Luận giải trên phương diện triết học tính tất yếu của việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập nguyên tắc: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" tại Hiến pháp năm 2013.
Về mặt đóng góp học thuật, tác giả tiếp cận vấn đề tổ chức quyền lực dưới góc độ triết học chính trị và phương pháp luận triết học, thay vì chỉ mô tả các thiết chế bộ máy nhà nước thuần túy dưới góc độ luật học hoặc chính trị học thực chứng như phần lớn các công trình trước đó. Khóa luận cung cấp một tài liệu tham khảo có giá trị lý luận phục vụ nghiên cứu lịch sử triết học và tiến trình hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được xác định từ phạm vi đề tài:
- Về phạm vi tư tưởng: Công trình chỉ giới hạn khảo sát 4 đại biểu lớn thuộc triết học phương Tây cận - hiện đại (Locke, Montesquieu, Rousseau, Hegel) trong giai đoạn thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, chưa bao quát được toàn bộ các tư tưởng chính trị - pháp lý của các triết gia Khai sáng khác hoặc các trào lưu triết học phương Tây đương đại.
- Về phạm vi thực tiễn: Khóa luận tiếp cận quá trình đổi mới tổ chức quyền lực từ năm 1992 đến năm 2019 ở tầm mức khái quát hóa triết học; chưa đi sâu giải quyết các vấn đề kỹ thuật lập pháp hoặc cải cách hành chính - tư pháp chuyên ngành.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng nghiên cứu sự vận động của thuyết phân quyền và tập quyền trong triết học chính trị phương Tây hiện đại (từ giữa thế kỷ XIX đến nay); đồng thời nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp trong điều kiện xây dựng chính phủ số và cải cách tư pháp tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Triết học, Triết học chính trị, Lý luận nhà nước và pháp luật, Luật học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.
- Những người nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây, đặc biệt là phần phân tích văn bản nguyên tác của Locke, Montesquieu, Rousseau và Hegel.
- Các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách tham khảo trong việc tìm kiếm luận cứ lý luận phục vụ việc hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực theo tinh thần Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013.
Câu hỏi thường gặp
1. Điểm khác biệt mấu chốt giữa mô hình phân quyền của John Locke và Charles Montesquieu là gì?
John Locke phân chia quyền lực thành lập pháp, hành pháp và liên hiệp, trong đó lập pháp là quyền tối cao (thuộc về Nghị viện), chưa tách riêng quyền tư pháp mà để tư pháp gắn liền với hành pháp của nhà vua. Ngược lại, Montesquieu phân tách dứt khoát ba quyền độc lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp; không thừa nhận quyền lập pháp đứng trên các quyền khác mà chủ trương các nhánh quyền lực phải kiềm chế, đối trọng ngang hàng theo nguyên tắc "quyền lực ngăn cản quyền lực".
2. Tại sao Jean-Jacques Rousseau kịch liệt phản đối thuyết tam quyền phân lập?
Rousseau phản đối tam quyền phân lập vì ông cho rằng chủ quyền tối cao của nhân dân bắt nguồn từ ý chí chung nên có tính thống nhất, bất phân và bất khả chuyển nhượng. Theo Rousseau, việc chia cắt quyền lực thành các nhánh độc lập thực chất là sự chia cắt cơ thể chính trị, biến các cơ quan quyền lực thành những thế lực đối kháng, làm suy yếu ý chí chung của quốc gia. Đối với ông, lập pháp là cơ quan tối cao duy nhất của nhân dân, còn hành pháp và tư pháp chỉ là các cơ quan phụ thuộc, thừa hành.
3. Hegel phê phán mô hình tam quyền phân lập của Montesquieu trên cơ sở triết học nào?
Hegel phê phán tam quyền phân lập là sản phẩm của tư duy siêu hình và tâm thế "dân đen", khi lấy sự đối lập thù địch làm điểm tựa và dựng lên các hàng rào ngăn cản lẫn nhau. Theo triết học duy tâm biện chứng của Hegel, nhà nước là một chỉnh thể hữu cơ sống động của "ý niệm đạo đức". Ba nhánh quyền lực thực chất tương ứng với ba quy định logic của khái niệm: quyền của quốc vương là tính cá biệt, quyền hành pháp là tính đặc thù, và quyền lập pháp là tính phổ biến; chúng phải thống nhất biện chứng với nhau chứ không thể tồn tại độc lập, rời rạc.
4. Khóa luận giải thích như thế nào về sự kết hợp giữa phân quyền và thống nhất quyền lực trong Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam?
Khóa luận chỉ ra rằng Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Sự thống nhất quyền lực thể hiện bản chất quyền lực thuộc về nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng; trong khi sự phân công, phối hợp và kiểm soát chính là sự tiếp thu hợp lý hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền nhằm chuyên môn hóa bộ máy và ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, tha hóa quyền lực.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Lê Thị Trang đã tái hiện một cách có hệ thống tiến trình vận động của tư tưởng tổ chức quyền lực nhà nước trong triết học phương Tây cận – hiện đại qua hai mô hình phân quyền và thống nhất quyền lực. Công trình khẳng định cả hai lý thuyết đều chứa đựng những giá trị tiến bộ của nhân loại về dân chủ, thượng tôn pháp luật và hạn chế sự tha hóa quyền lực. Việc nghiên cứu thấu đáo những tư tưởng kinh điển này đem lại cơ sở lý luận quan trọng giúp Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.