Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo xã hội là một nội dung còn khá mới mẻ và còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo xã hội ở nhiều cấp độ và từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, trong đó, có thể chia thành các nhóm: 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu về lãnh đạo xã hội nói chung Trong nghiên cứu về lãnh đạo xã hội, từ trước tới nay vẫn chưa có một công trình thật sự tiêu biểu nào xuất phát từ các kết quả nghiên cứu về tư tưởng lãnh đạo để hướng đến việc phân tích và làm nổi bật vai trò của các chủ thể lãnh đạo xã hội.
Tuy nhiên, từ những cách tiếp cận khác nhau, trên thế giới đã có một số công trình đi sâu vào tìm hiểu và phân tích về nội dung này. Đó là những công trình có ý nghĩa tham khảo trong việc triển khai đề tài nghiên cứu, như: + Yukil & Van Fleet, Theory and research on leadship in organizations (Lý thuyết và nghiên cứu về lãnh đạo trong các tổ chức) [170]. Các tác giả cho rằng, lý thuyết lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất bẩm sinh, được nghiên cứu vào những năm 1930-1940. Lý thuyết này cho rằng, năng lực của các nhà lãnh đạo là sẵn có chứ không phải do luyện tập hay cố gắng mà đạt được.
Do đó, các nhà lãnh đạo phải là những người có tố chất siêu phàm, phải có những giá trị vượt trội, và chính những tố chất và giá trị vốn có đó giúp họ trở nên xuất chúng và trở thành những người đứng đầu một quốc gia, bộ tộc, tôn giáo hay tổ chức. Lý thuyết lãnh đạo tố chất đã tìm ra những đặc điểm, tính cách 8 của nhà lãnh đạo có liên hệ mật thiết tới thành công của tổ chức. Trong đó, tính “thống trị” và “tham vọng” là những đặc điểm nổi trội của các nhà lãnh đạo.Katz, Leaders: The Strategies for Taking Charge (Nhà lãnh đạo: Các chiến lược để nắm giữ) [153]. Các tác giả cho rằng, lý thuyết lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi được các học giả nghiên cứu vào những năm 1940-1950 để tìm ra mô hình người lãnh đạo hiệu quả.
Theo đó, thay vì nghiên cứu các đặc điểm tính cách của nhà lãnh đạo, lý thuyết lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi tập trung vào hành động, công việc cụ thể mà mỗi nhà lãnh đạo thực hiện. Tuy nhiên, cần lưu ý là hành vi của nhà lãnh đạo lại phụ thuộc vào đặc điểm tính cách và kỹ năng của nhà lãnh đạo đó. Với mong muốn tìm kiếm một phong cách lãnh đạo tốt nhất, các nhà nghiên cứu đã phân tích và cố gắng tìm ra sự khác biệt trong hành động của những nhà lãnh đạo hiệu quả và những người khác. Vì vậy, điểm khác biệt của lý thuyết lãnh đạo hành vi là nghiên cứu các phong cách (mô hình) lãnh đạo tiêu biểu.
Maxwell, Phát triển kỹ năng lãnh đạo [63]. Tác giả nêu ra định nghĩa “lãnh đạo là gây ảnh hưởng”. Lãnh đạo sẽ không thể là lãnh đạo nếu không có ảnh hưởng. Một nhà lãnh đạo mà không có ai đi theo thì không hơn người đi bộ một mình.
Trong bất cứ tình huống nào, một nhóm từ hai người trở lên luôn luôn có một người có ảnh hưởng nổi bật, người đó là lãnh đạo. Vì vậy, mỗi chúng ta đều gây ảnh hưởng và bị ảnh hưởng từ người khác. Điều này có nghĩa là: tất cả chúng ta lãnh đạo người khác trong một vài lĩnh vực; ngược lại ở một số lĩnh vực khác chúng ta được người khác dẫn dắt. Không ai nằm ngoài quy luật này: hoặc là nhà lãnh đạo hoặc là người bị lãnh đạo.
Tác giả cũng cho rằng, ảnh hưởng được tạo ra từ quyền lực của nhà lãnh đạo. Nói cách khác, tất cả các công việc lãnh đạo đều phải sử dụng đến quyền lực. Quyền lực có thể được tạo ra từ chức vị, từ các mối quan hệ, từ bản thân mỗi cá nhân. Người ta thường kết hợp cả ba loại quyền lực này với nhau trong 9 khi thực hiện công việc, tuy nhiên mức độ sử dụng mỗi loại quyền lực lại khác nhau.
Trong công việc lãnh đạo, nhà lãnh đạo sử dụng quyền lực cá nhân, tức là quyền lực xuất phát từ phẩm chất, năng lực của mình. Quyền lực đó mang tính cuốn hút, lôi kéo người khác đi theo mình. + Nonaka, Takeuchi, Wise leader (Nhà lãnh đạo khôn ngoan) [163]. Các tác giả cho rằng, trong thời đại của những sự biến động, sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo là yếu tố hết sức cần thiết cho sự phát triển của tổ chức và xã hội.
Sự khôn ngoan là kết tinh của sự hiểu biết, uyên thâm, từng trải thực tiễn để đưa ra được phán quyết tốt nhất vì lợi ích chung trong một bối cảnh cụ thể. Phẩm chất của nhà lãnh đạo khôn ngoan bao gồm: 1. Khả năng phán xét vì lẽ phải; 1. Khả năng nắm bắt bản chất vấn đề; 3.
Khả năng tạo bối cảnh; 4. Khả năng truyền đạt bản chất vấn đề; 5. Khả năng thực hành quyền lực chính trị; 6. Khả năng phát huy sự khôn ngoan ở người khác.,T, Leadership, Trustworthiness and Ethical Stewardship (Lãnh đạo, niềm tin và đạo đức quản lý) [155], Các tác giả đã mô hình hóa lãnh đạo gồm ba nhiệm vụ then chốt: 1) Phát triển các mối quan hệ, tạo dựng sự cam kết của cấp dưới; 2) Sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài để hoàn thành các mục tiêu của tổ chức; 3) Xây dựng hình ảnh tạo nên niềm tin và sự tin cậy trong toàn tổ chức.I, Leadership & HR Development (Lãnh đạo và phát triển nhân sự) [159].
Tác giả cho rằng, lãnh đạo là việc gắn kết và đồng nhất nỗ lực của mọi người để thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác có bàn tới lãnh đạo xã hội như: X.Kôvalépxki, Người lãnh đạo và cấp dưới [151]; Seters, D. Field, Sự phát triển của lý thuyết lãnh đạo học (The Evolution of Leadership Theory), bản dịch của Lê Thị Thục (Lưu tại Viện Chính trị học) [155]., Dân chủ và lãnh đạo [102]; A.K, Management - A Practical introduction, 3rd., McGraw-Hill, Boston [161]; Kristen Magis, Marcus Ingle và Ngô Huy Đức, Chương 18: “Public Leadership for Sustainable Development” (Lãnh đạo công vì sự phát triển bền vững), trong New Public Governance: A Regime-Centered Perspective, (Bản dịch lưu tại Viện Chính trị học) [162]. Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo xã hội Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử nổi bật của thế kỷ XX trên phương diện nhà chính trị, nhà lãnh đạo, được nhiều nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Không có những công trình, tác phẩm, bài viết, bài nói đề cập trực tiếp đến tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo xã hội, nhưng có một số công trình ít nhiều bàn tới vai trò của Hồ Chí Minh trong lãnh đạo xã hội. Có thể kể đến một số công trình, bài viết, bài nói sau: + Tạp chí Time, số ra ngày 22-11-1954 [168] đã đăng trên trang bìa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và dành năm trang nói về thân thế và sự nghiệp cùng với việc Việt Nam chiến thắng Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tạp chí này nhấn mạnh: Với thắng lợi (Điện Biên Phủ), uy tín của Ông Hồ Chí Minh đã vươn tới đỉnh cao mới tại châu Á. Các nhà dân tộc chủ nghĩa tại nhiều nước, mặc dù họ chống cộng, nhưng không thể không lấy làm tự hào trước chiến công của một quân đội một nước châu Á đánh bại những kẻ từng là “ông chủ” của họ từ châu Âu tới… Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, lực lượng Việt Minh đã có được một quân đội chiến đấu trong rừng có hiệu quả nhất Đông Nam Á, có vị tướng tài ba nhất Đông Nam Á là Võ Nguyên Giáp, có một tổ chức chính trị vững chắc nhất do Hồ Chí Minh đứng đầu và có trình độ lãnh đạo lão luyện.Mazyrin, Chính sách kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Lí luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh (1945-1969), trong cuốn Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh và thời đại này nay [149].
Tác giả đã rút ra những bài học cơ bản từ phân tích quá trình lãnh đạo kinh tế ở thời kỳ then chốt của nước Việt Nam của Hồ Chí Minh, đó là: Nâng dần nông thôn, tạo dựng một tổ hợp nông nghiệp và trên cơ sở đó để phát triển công nghiệp; Ổn định và nhanh chóng khôi phục nền kinh tế trong thời bình; Kế hoạch hóa một cách thông minh và tái tổ chức nền kinh tế quốc dân; Tin cậy vào nền kinh tế địa phương để vượt ra khỏi những điều kiện của cuộc chiến tranh; Sử dụng sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Côbêlép, Đồng chí Hồ Chí Minh [49]. Tác giả đã xem Hồ Chí Minh là một trong những nhà văn hóa, nhà cách mạng kiệt xuất. Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh thần cách mạng triệt để, song lại là biểu tượng về chủ nghĩa nhân văn cách mạng – sự kết hợp giữa lòng thương người truyền thống của dân tộc với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh đã tiếp tục và phát huy mọi giá trị truyền thống của dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại, mà lý luận chủ nghĩa MácLênin là cơ bản, đã góp phần xây dựng nền văn hóa mới, CON NGƯỜI chân chính, được viết bằng chữ in hoa. Duiker, Ho Chi Minh, a life (Hồ Chí Minh, một cuộc đời) [169]. Tác giả nhận định: Hồ Chí Minh hẳn nhiên là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX. Ông có một tính cách lãnh đạo riêng bằng thuyết phục và đồng tâm hơn là áp đặt ý chí quyền lực của mình cho người khác.
Khác với những nhân vật cách mạng nổi tiếng khác, Hồ Chí Minh ít quan tâm tới hệ tư tưởng và các cuộc tranh luận ý thức mà tập trung toàn bộ suy nghĩ và hoạt động của mình vào các công việc thực tế nhằm giải phóng đất nước mình và các dân tộc thuộc địa khác thoát khỏi chủ nghĩa đế quốc phương Tây. 12 + Singo Sibata, Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng [165].